Open top menu
Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014
BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 107


                (tiếp theo)



Bác Ba Phi thú thật :
“ Nói thật với chị …tôi chẳng quan tâm tới ba chuyện đó…ngay đến chương  trình thời sự cũng chẳng coi…mà cũng chẳng phải riêng tôi đâu…đa số người nhà quê ở miệt vườn như tôi đều vậy cả…thôi cứ mặc mấy cha Đảng và Nhà nước muốn làm gì làm, muốn ăn gì ăn…bà con cũng biết mấy cha tham ô tham nhũng cả đấy…không thì lấy tiền đâu ra xây nhà lớn nhà nhỏ, rồi thì trang trại mấy trăm mấy ngàn hecta, rồi thì con cái du học Mỹ …toàn tiền dân cả chứ đâu…nhưng làm gì được …quân đội, công an nó nắm trong tay…quan toà, luật sư là người của nó…người dân cứ làm ăn lương thiện, thuế má đầy đủ cũng đã khó sống rồi còn nói gì tới chuyện đi tố cáo quan tham ?”
Bà chủ nhà ngạc nhiên :
“ Bác nói gì lạ vậy ? Sao chí thú làm ăn , thuế má đầy đủ mà vẫn còn khó sống ?”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Tại chị ở ngoài này không biết…thời nay người nông dân chịu đủ các thứ sắc thuế , đủ các thứ đóng góp…một sương hai nắng, đổ mồ hôi trên cánh đồng mà chưa chắc đã được no đủ…giá lúa cứ tụt hoài, tư nhân ép giá…rồi lại còn nạn thóc giống giả, phân bón giả từ bên Trung Quốc nó đưa sang . Bà con hám rẻ cứ mua về xài mất mùa trắng tay chẳng biết kêu ai …”
Bà chủ nhà kêu lên :
“ Oh My God…vậy Đảng và Nhà nước đâu ? Sao không ngăn chặn tụi nó  đưa hàng giả sang Việt Nam, sao không hướng  dẫn nông dân phân biệt hàng giả hàng thật ? Sao cứ nói lem lẻm ‘Nhà nước từ dân mà ra , do dân, vì dân “ kia mà…”
Bác ba Phi cười cười :
“Nói dzâỵ mà không phải dzâỵ…”
Bà chủ quán reo lên :
“ Oh My God…lâu lắm rồi…dễ cả vài chục năm nay tôi không được nghe câu này…chẳng bù cho cái hồi phải sống với mấy ông cộng sản, đi đâu cũng nghe bà con gỉ tai nhau “ mấy ổng nói dzâỵ mà không phải dzâỵ” Ha ha…Hoá ra câu cửa miệng đó vẫn còn lại tới tận bây giờ ?””
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Ngày xưa người dân còn lắng nghe xem mấy chả nói gì ? Từ đó mới có câu “ nói zdâỵ mà không phải dzâỵ” … còn bây giờ…mấy chả nói mấy chả lại nghe, người dân có mấy ai nghe coi mấy chả nói gì nữa đâu ?”
Bà chủ nhà trợn mắt :
“ Vậy chẳng hoá ra Đảng và Nhà nước muốn nói gì nói, muốn làm gì làm ?”
Bác Ba Phi gật đầu :
“ Đúng dzâỵ đó…nghe trên radô, tivi chỉ có ba câu sáu điều năm này qua năm khác mấy chả nói có nhiêu đó thôi , ai mà nghe ?”
Bà chủ nhà gật đầu :
“ Thảo nào mấy người trong nước sang đây, hỏi gì cũng không biết, không biết, vậy còn bác. Liệu có “ khôngbiết” như vậy không ?”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Thì tôi cũng phó thường dân như họ thôi, có biết gì đâu ?”
“ Nếu ai cũng như bác “có biết gì đâu “ thì nguy to rồi…”
Bác Ba Phi ngạc nhiên :
“ Sao lại nguy to ? Ở trong nước có thấy báo đài nói gì đâu, toàn là mít tinh, liên hoan với lễ hội không à ?”
Bà chủ nhà vội nói :
“ Đó…đó…người  ta tổ chức liên miên thật nhiều lễ hội để người dân quên đi thực trạng tham nhũng khủng khiếp và thằng Trung Quốc đang hò hét xâm lấn đảo Bạch Long Vĩ và Trường Sa của ta kìa…”
Động tới Trung Quốc bác Ba Phi lại nghĩ tới cây vú sữa ở nhà. Nó là  vú sữa cổ thụ, dễ phải đến 50 năm, lớn gấp 5- 6 lần cây vú sữa bà chủ nhà,  hàng năm đến mùa ra quả, hái không kịp rụng đầy một khoảnh vườn. Lái đánh xe ngựa tới mua, mỗi năm bác thu cả chục triệu. Thế rồi chẳng hiểu sao năm vừa rồi cây vú sữa bói không ra quả nào . Vợ chồng thằng Đậu ngày nào cũng ra vườn ngong ngóng lên cây, cầu trời khấn Phật cho cây vú sữa lại ra trái như  mọi năm. Vậy nhưng không, cây vú sữa cành lá vẫn xum xuê, lá khô rụng đầy mà chẳng thấy trái nào. Bác ba Phi đoán năm nay trời nóng quá, nóng nhất từ trước tới nay, bà con trong xóm được cán bộ phòng nông nghiệp huyện cho biết do trái đất bị ô nhiễm nên khí hậu biến đổi và đây mới chỉ là bước đầu, mai kia sông Cửu Long sẽ cạn hết nước, nước biển sẽ tràn vào sâu trong nội đồng là dân chết đói hết. Thằng Đậu  nghe hóng chuyện ở đâu, chạy về gỉ tai bác Ba Phi :
“ Nội à…người ta nói nước sông  Cứu Long cạn là tại thằng Trung Quốc nó xây đập giữ hết nước ở trển để tưới ruộng nhà nó mình ở phía dưới bị hạn hán là do vậy  đó…”
Bác Ba Phi hoang mang :
“ Mày nghe ai nói vậy ? Sao không thấy báo đàimình nói gì ?”
Thằng Đậu trợn mắt :
“ Í mèn ôi…báo đài mình sợ thằng Trung Quốc còn hơn sợ ông cố nội nhà nó, sức mấy dám lên tiếng tố cáo, chỉ đổ tại là do biến đổi khí hậu trên toàn thế giới thôi, có dám nêu đích danh thủ phạm là thằng Tàu ngăn sông đắp đập làm sông mình cạnhết nước đâu . Như cái cây vú sữa nhà mình năm nay không ra trái cũng là vì khô hạn, nước không có , muôn sự là tại thằng Tàu cả thôi…”
Bác Ba Phi đe nẹt :
“ Mày hóng tin vỉa hè, chẳng biết thực hư ra sao mồm miệng cứ bô bô lên lỡ tới tai an ninh xóm nó báo cáo lên công an huyện xích cổ mày lại là cái chắc…”
Thằng Đậu rụt cổ lại, lè lưỡi :
“ Í chết chết…con nói chơi với nội thôi mà…con có nói với ai đâu mà tới tai an ninh…vậy nội nghe đâu để đó, chớ có nói cho ai , thời buổi bây giờ tai vách mạch rừng, chẳng tin ai được đâu…”
Vẻ sợ hãi đến xanh xám mặt mày của thằngĐậu làm bác Ba Phi bật cười :
“ Mẹ cái thằng này…đúng là già dái non hột…lúc nãy còn hùng hổ vạch trần thủ phạm là thằng Tàu, giờ chết nhát như con ếch trước miệng con rắn vậy là sao ?”
Thằng Đậu nhăn nhó :
“ Nội không biết…cái tổ an ninh nhân dân ấp mình tụi nó vừa họp phân công nhau “nắm tình hình địa bàn kìa”. Nghe nói con mẹ Mười Mập phụ trách nghe ngóng xóm mình đó. ..”
Bác Ba Phi buột miệng :
“ hèn chi…hồi này tao cứ thấy con mẻ ra vô xóm mình hoài à..Hoá ra nó làm chó đánh hơi à ?”
Thằng Đậu sợ hãi :
“ Ay ấy…nội đừng nói vậy…lỡ tới tai con mẻ thì chết cả nhà…”
Bá Ba Phi cáu :
“ Sợ con mẹ gì. Mình làm ăn lương thiện có ăn cắp, tham ô tham nhũng của ai đâu mà phải sợ…”
Thằng Đậu bật cười khanh khách :
“ Kìa kìa…nội sảng rồi kìa…nội là phó thường dân chứ có phải là cán bộ đảngNhà nước đâu mà đòi tham ô tham nhũng…Nói vậy không sợ bà con lối xóm cười  cho thúi mũi …”
Hoá ra cây vú sữa trong vườn bà chủ nhà ở mãi tận Las Vegas miền Tây nước Mỹ đang làm cho bác Ba Phi nhớ lại ngổn ngang bao nhiêu chuyện quê nhà. Thôi, phải về thôi, quê nhà dẫu có thế nào thì sống  ở quê vẫn hơn. Ai ham sống ở Mỹ thì kệ họ, riêng bác Ba Phi nhất định là không .
Hoá ra ở bên Mỹ người ta thông thuộc tình hình trong nước hơn là bà con quê nhà . Rõ thật trái khoáy. Nhưng mà kể ra vậy cũng đúng thôi. Ở bên Mỹ nhà nào nhà nấy đều có vi tính có internet còn ở VIỆT NAM thì tuyệt đại đa số có biết máy vi tính là thế nào ? Còn tụi con nít bu đầy ở các quán internet thì chẳng qua vào chơi game thôi, có đứa nào đọc tin thời sự ? Ngay tối nào tivi cũng ra rả chương trình thời sự đập vào mắt mà người dân còn không coi huống hồ bảo họ sắm máy vi tính mà đọc tin tức nắm vững tình hình trong nước và quốc tế ? Còn lâu ạ. Cái dân mình ham vui, có coi tivi thì cũng chỉ coi phim Hàn Quốc, Trung Quốc để giải trí nhẹ nhàng thôi. Cứ đến phần thời sự hay tương thuật trực tiếp  các cuộc mít tinh thì chuyển sang kênh khác coi liền.
Bà chủ nhà hỏi gặng :
“ Thế bác có biết tình hình tham nhũng ở trong nước đã tới mức độ thế nào chưa ?”
Bác Ba Phi ấp úng :
“ Thì cũng nghe đài báo có mấy vụ nhì nhằng như ăn chặn tiền đền bù giải toả, tiền cứu trợ, rút ruột các công trình.chạy chức, chạy quyền, chạy án … nhưng mà cũng chỉ biết vậy thôi, hồi này báo chí cũng có dám khui ra mấy đâu, nhỡ rút giây động rừng thì sao ?”
Bà chủ nhà cười cười :
“ Báo chí không dám khui ra nhưng trên mạng người ta vạch trần tài sản của các cán bộ cỡ bự kìa. Riêng ở  quê tôi, kỳ vừa rồi tôi về chơi có đi ngang qua khu nhà mới xây của thằng cha Chủ tịch tỉnh, ối trời ôi, nom như cung điện vua chúa ngày xưa vậy, nghe nói tốn hết hơn 1 triệu đô la Mỹ…”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Thì kinh tế thị trường, ai có tiền cứ xây nhà xây cửa thoải mái có sao đâu ?”
“ Tất nhiên rồi, bên Mỹ này cũng vậy, ai có tiền muốn mua gì mua, muốn tiêu gì tiêu, nhưng phải là đồng tiền chính đáng, tiền hợp pháp kìa. Mấy cha lãnh đạo cộng sản Việt Namcứ tính theo lương thì mỗi tháng  được bao nhiêu ? Nội tiền xăng chở vợ con mấy cha đi chùa cũng chẳng đủ. Vậy mà cha nào cũng có cả chục triệu, trăm triệu đôla Mỹ. Tiền đâu ra ? Tham ô, tham nhũng cướp của dân mà ra chứ sao ? Vừa rồi nghe nói ông nguyên Bí thư tỉnh uỷ Bà Rịa thuê thợ đục cả núi ra làm nghĩa trang gia đình kìa…”
Bác Ba Phi kinh ngạc :
“ Đục núi ra làm nghĩa trang ? Bộ tính làm như mộ Tần Thuỷ Hoàng  ngày xưa hay sao ?”
Bà chủ nhà cười cười :
“ Làm được như mộ Tần Thuỷ Hoàng ngày xưa thì đến Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh hay Hồ Cẩm Đào cũng chịu. Cha này chỉ khoét núi thành những phòng ốc để cải táng xương cốt ông cha, người thân trong già đình vào đó thôi.  Làm vậy mà cũng tốn cả chục triệu đôla Mỹ đó…”
Bác Ba Phi há mồm :
“ Chục triệu đô la Mỹ ,,,tính sang tiền ta là bao nhiêu ?”
“ Là gần 200 tỉ tiền Việt chứ không ít đâu ?”
Bác Ba Phi thở dài :
“ Í trời ơi…200 tỉ thì mua được nguyên cả cái xóm tôi kể cả ruộng vườn…”
Bà chủ quán cười  cười :
“ Thì toàn tiền của dân tụi nó ăn cướp nên mới xài xả láng vậy. Bác có biết chùa Bái Bính ở Ninh Bình không ? To nhất nước đấy, to hơn cả Đại Nam quốc tự của Dũng lò vôi ở Bình Dương nữa kìa. Nghe nói tiền xây chùa tốn hết hơn một tỉ đô la kìa. Tiền đâu ra ? Bộ chúng nó in được tiền à ?. Đáng nói ở đây là chùa Bái Bính có riêng một cái tháp để mọi người gửi xương cốt người thân vào đó …”
Bác Ba Phi gật đầu :
“ Chuyện đó thì chùa nào chẳng có. Như chùa Vĩnh Nghiêm ở Sàigòn đó, biết bao nhiêu người sau khi hoả táng người thân thì gửi bình tro vào đó cho con cháu sau này đến viếng…”
Bà chủ quán gật đầu :
“ Thì bên Mỹ này cũng có chùa có tháp gửi tro cốt như vậy. Tuy nhiên người gửi tuỳ nghi đóng góp, có khi chỉ cần một cái lễ nhỏ cũng xong. Nhưng ơ chùa Bái Bính để có một chỗ gửi bình cốt ấy phải trả tiền và bác có biết bao nhiêu không ?”
Bác Ba Phi nghĩ một chút rồi cười cười :
“ Vậy ra nhà chùa cũng làm dịch vụ kia à ? Nếu vậy chắc cũng phải  trăm ngàn chứ không ít …”
Bà chủ nhà hỏi lại :
“ Vài trăm ngàn tiền Việt Nam ấy à ?”
“ Tất nhiên là tiền Việt Nam chứ không lẽ lại tiền Mỹ ?”
Bà chủ quán cười khanh khách  :
“ Vài trăm ngàn tiền Việt Nam tức là có mấy chục đô la thôi ấy ư ? Vậy thì đứng ngoài cửa chùa mà nhìn vào nhé. Nghe nói một chỗ gửi cốt  giá 50 ngàn đô la Mỹ nhé. Vậy mà các cán bộ, các đại gia đã mua chỗ gần hết rồi đó…”
Bác Ba Phi hoảng hồn :
“ 50 ngàn đô la Mỹ . Tính sang tiền ta là bao nhiêu ?”
“ Dạ thưa gần một tỉ bạc đấy ạ…”
Bác Ba Phi rền rĩ :
“ Oi chết chết…gần một tỉ mua một  chỗ gửi tro cốt thì chẳng hoá ra nhà chùa cắt cổ khách hàng à ?”
Bà chủ nhà cười cười :
“ Bởi vậy mới nói tiền tham ô, tham nhũng bây giờ thật không bằng vỏ hến. Mà toàn là các cán bộ Nhà nước cả thôi mới chết chớ. Mua đất, mua nhà, mua trang trại chán rồi, giờ thừa tiền mua chỗ gửi  tro cốt nữa là hết thứ mua…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Thật hết chỗ nói. Nhưng mà đã thật là hết các thứ cho cán bộ mua chưa ?”

                     (còn tiếp)


Read more
Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014
NGƯỜI KÉO MÀN  Tiểu thuyết kịch của  NHẬT TIẾN   (KỲ 1)

   


In lần đầu ở Sài Gòn năm 1962
Tái bản lần đầu ở hải ngoại năm 2002

***********
DƯ LUẬN  VĂN GIỚI TRÊN BÁO CHÍ  NĂM 1962
VỀ CUỐN NGƯỜI KÉO MÀN

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN : Nhật Tiến đã dùng một kỹ thuật mới mẻ đối với tiểu thuyết Việt Nam và rất thích hợp cho việc tạo không khí cho Người Kéo Màn, cuốn truyện liên quan nhiều đến sân khấu. Chuyện đối thoại xen lẫn đoạn tả cảnh, gồm có ngoại cảnh, trong hậu trường, trên sân khấu, sau cánh gà, trong phòng hóa trang, tại giàn nhạc, trong phòng xép, ở chỗ kéo màn, dưới hầm nhà..v..v…Mỗi góc cạnh đó tựa như mỗi cái cánh của chiếc chong chóng xoay tít trên một cái trục vô hình là cuộc đời.

DƯƠNG NGHIỄM MẬU : Trong Người Kéo Màn, chính kỹ thuật làm cho người đọc cảm đến rợn người lên về những khia cạnh “thực” chung quanh vở kịch “giả”, mà nếu diễn tả những chỗ đó ra có khi trở thành lố bịch, ngô nghê.

THƯỢNG SỸ:  Người Kéo Màn là một tác phẩm rất khá, khá đủ mọi phương diện: bố cục chặt chẽ, văn viết gọn, sáng sủa, nhận xét sâu sắc, trình bầy nhân vật mới mẻ, vô cùng linh động.

BÙI ĐÌNH : Thể tài này tuy không mới lạ gì với văn gia quốc tế, nhưng ở Việt Nam chưa ai dùng. Nhật Tiến đầu tiên đã dám sử dụng nó và biết sử dụng nó.



***********
                                               N G O Ạ I   C Ả N H

Thời gian vào lúc xẩm tối. Con  đường nhựa từ trung tâm thành phố dẫn đến nhà hát Trung Ương  chạy qua những khu thương mại sầm uất rực rỡ ánh đèn và náo nhiệt người qua lại. Xe cộ chạy trên hai chiều nhộn nhịp. Những tà áo mầu phấp phới trong gió mát trên hè phố. Nhiều nhóm người đang rải rác  đi về phía rạp hát. Có đôi vừa đi vừa ngả đầu vào nhau thủ thỉ. Có đôi dừng lại  hôn nhau trong một góc tối. Tình yêu. Thanh bình . Thế thì phải chăng dĩ nhiên là có hạnh phúc ?
Rạp hát Trung Ương sừng sững chắn ngang ở cuối con đường huyết mạch. Đèn ở đây rọi chói lòa cả một khu vực rộng rãi bao la. Trên những bậc thềm đá từ hè đường dẫn tới cửa rạp, đã thấy xuất hiện nhiều hàng quà bánh xen lẫn với đám khán giả tới sớm tụ tập lố nhố. Bên cánh trái của cửa rạp hát, một tấm bảng quảng cáo rực rỡ nhiều mầu , trên vẽ một tấm màn nhung đã được kéo lên, chính giữa có một hàng chữ cực lớn, viết bằng những nét tài hoa, bay bướm:

                 Ban Kịch ÁNH SÁNG
       lần đầu tiên long trọng trình diễn :
                  NGƯỜI  KÉO MÀN
     kịch phẩm bất hủ của tác giả VĂN....( gì đó )

    Đằng sau chữ Văn lúc này không đọc được vì bị che khuất bởi bóng đen của cái đầu một thằng bé. Nó mới chừng lên sáu lên bẩy, quần áo rách rưới, chân dẫm đất, một tay nó sờ soạng một cách tò mò trên tấm bảng quảng cáo, còn tay kia bị khoèo chỉ còn thấy đu đưa lúc lắc. Nó bé loắt choắt, cả cái chiều cao của nó chỉ với tới đúng vào cái chỗ có tên tác giả. Mầu sắc lòe loẹt như mê hoặc thằng bé. Nó thích thú xòe cả năm ngón tay ra xoa xoa lên lớp bột mầu. Những mảng mầu bong ra. Bàn tay thằng bé lấm lem và cái chữ đằng sau chữ Văn, tên của tác giả cũng bị nhòe nhoẹt. Vừa lúc đó, ở phía đầu kia của những bậc thềm có tiếng la bải hải :
- Cưng ơi !  Cưng !
Thằng bé hốt hoảng quay người lại nhớn nhác. Một tia sợ hãi vụt thoáng qua vẻ mặt xanh xao, hốc hác. Nó vội vã giơ cái bàn tay lấm lem bột mầu lên trước mặt, rồi sấn tới một đám người đứng ở gần đó, cất giọng lải nhải rền rĩ :
- Con lậy ông bà ! Con lậy ông bà ! Con tàn tật !
Vài người ở sát gần nó vội co cụm lại như tránh né để nó khỏi làm dơ bẩn bộ quần áo dạ hội lóng lánh những hạt cườm. Phía đằng kia vẫn có tiếng gọi, nhưng lần này mang vẻ nóng nẩy, giận dữ hơn :
- Cưng ơi! Tiên sư cha thằng nhãi con mất biến đâu rồi ! Cưng ơi !
Trong chớp mắt, một mụ đàn bà xanh xao, quắt queo, một tay xách cái bị rách, một tay cầm cái roi tre xốc tới. Thằng bé tính vùng lên chạy nhưng đụng phải đôi mắt trắng dã, tóe lửa của mụ đàn bà nên nó dúm người lại, hai cẳng chân run rẩy như  bị dính cứng. Tuy thế nó vẫn thều thào được :
- Con lậy ông bà ! Con lậy ông bà ! Con tàn tật !
Mụ đàn bà bây giờ đã túm được nó. Mụ rê nó đi như người ta lôi một con chó ốm. Đến một góc tối, giọng mụ rít lên :
- Tổ cha nhà mày, ham chơi. Từ nẫy được đồng nào chưa ?
Rồi không chờ cho nó trả lời, mụ khoắng một cách thô bạo vào cái túi vải nhỏ đeo ở trước bụng của nó. Chẳng có một đồng xu teng nào trong đó cả. Điều này khiến cho mụ càng  điên tiết lên hơn. Mụ quất bất kể chỗ nào lên mình thằng bé và lớn giọng:
- Sư mày! Sư mày! Chỉ là cái giống ăn hại, suốt từ tối mà chưa ra đồng nào. Mày mà còn thế nữa thì tao vặn nốt cái tay kia cho mày biết !
    Vừa nói mụ vừa phết cho nó một roi quắn đít cuối cùng và đẩy nó ra khỏi bóng tối. Thằng bé bị du chúi đầu về phía trước loạng choạng suýt ngã. Nhưng nó gượng đứng vững lại được và lủi thủi đi về phía đám đông. Tiếng của nó lại rền rĩ cất lên :
    -Con lậy ông bà ! Con lậy ông bà ! Con tàn tật !


                     TRONGVƯỜN HOA , KHU CÔNG VIÊN
                                    KẾ BÊN RẠP HÁT


Phía cửa công viên, ánh sáng mờ nhạt. Ngọn đèn héo úa lơ lửng trên chiếc cột sắt cao. Thấp thoáng sau khóm lá, bức tượng đá nhô lên giữa mặt sỏi. Từng lớp bụi
nước qua những cái miệng vòi phun lên cao. Tiếng nước lõm bõm rơi vào yên lặng. Âm thanh thánh thót.
Hai người vẫn ngồi hờ hững bên nhau. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ dằn vặt. Phía trước mặt, hí viện vẫn chói lòa ánh sáng.

Thiếu phụ áo đỏ: Thế mà cũng hơn bẩy giờ rồi. Mình đứng lên đi.
Tác giả: Bây giờ anh mới thấy hối.
Thiếu phụ áo đỏ: Mình bảo sao ?
Tác giả: Về vở kịch . Đáng lẽ không nên kết như thế.
Thiếu phụ áo đỏ: Ồ, rõ vớ vẩn chưa! Mình có nhớ là chỉ có mỗi cái đoạn kết  ấy thôi mà mình cũng  trầy trợt  đến ba, bốn tuần. Tưởng đã xong xuôi, thế mà vẫn lại còn chưa ổn. Chẳng bao giờ em thấy mình bằng lòng với mình cả.
Tác giả: Làm sao anh có thể tự bằng lòng được khi anh biết rõ là mình hãy còn thật là nông cạn.
Thiếu phụ áo đỏ: Ôi, nông sâu biết thế nào mà dò. Em thấy chỉ có chính mình làm khổ mình vì những chuyện  không đâu ấy thôi
Tác giả: Sao lại không đâu ! Chính những cái đó mới là nền móng cần thiết cho một tác phẩm.
Thiếu phụ áo đỏ: Hừ, nếu cứ như thế  thì mãi mãi mình cũng chỉ đến như thế mà thôi !
Tác giả: (thừ người ) Mình ạ, đáng lẽ anh nên nghiền ngẫm vở kịch lâu hơn nữa mới phải.
Thiếu phụ áo đỏ: Ròng rã trên một năm rồi chưa đủ hay sao !
Tác giả: Càng để lâu anh càng tìm thấy nhiều cái mới lạ.
Thiếu phụ áo đỏ: Thế thì mình cứ ngồi mà ôm khư khư lấy bản thảo suốt đời. Đừng có oán trách  ai nữa hết !
Tác giả: Oán thì anh chẳng oán ai hết. Nhưng sự thực là phải như thế. Dục tốc bất đạt !
Thiếu phụ áo đỏ: Em chịu không hiểu được mình.
Tác giả: Anh cũng không hiểu anh nữa. Anh tự hỏi tại sao anh lại có thể trao cho họ một vở kịch như  thế.
Thiếu phụ áo đỏ: Nhưng có sao đâu ! Họ đã nhận lời trình diễn rồi mà.
Tác giả: Bởi thế anh mới hối. Giá như họ khó tính hơn nữa. Phải rồi, đáng lẽ họ nên khó tính hơn nữa.
Thiếu phụ áo đỏ: Em thấy mình luôn luôn tự mâu thuẫn. Ừ, giả thử nếu họ từ chối vở kịch của mình thì sao.
Tác giả: Thì càng.....
Thiếu phụ áo đỏ: Thôi đừng có tự dối mình. Em tin chắc nếu quả thật là như thế thì mình sẽ lại dằn vặt, lại chán chường và lại than thở rằng tìm khắp gầm trời thiên hạ chẳng có lấy được một cặp mắt xanh.
Tác giả: Ồ...mình....
Thiếu phụ áo đỏ: Đó là sự thật, mình ạ.
Tác giả: (im lặng)
Thiếu phụ áo đỏ: Cho nên nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại. Trên đời này chẳng có cái gì gọi là toàn bích hết. Đúng không ?
Tác giả: Mình nói đúng. Anh không thể viết ra được một cái gì gọi là toàn bích. Anh đã thấy cái nhược điểm đó của anh. Đó là nhược điểm của những kẻ bất tài.
Thiếu phụ áo đỏ: Ồ, em xin lỗi. Em không có ý ám chỉ mình là như thế.
Tác giả: Đó là sự thực. Mình đã nói sự thực mà.
Thiếu phụ áo đỏ: Có nhiều sự thực chẳng nên nói ra.
Tác giả: Anh không đồng ý. Giữa chúng mình chả có điều gì không nên nói thực với nhau.
Thiếu phụ áo đỏ: Em thì nghĩ khác, Biết sự thực mà không thay đổi được gì  thì biết cũng là vô ích. Vậy thì can cớ gì cứ bắt người ta phải nói ra.
Tác giả:  Ấy đấy ! Đó chính là nỗi băn khoăn  ám ảnh suốt một đời anh. Cứ đánh vật mãi với hai chữ “Sự thực” nên con người cứ trở nên chán chường trong cái thế giới dằn vặt, cô đơn là thế đấy.
Thiếu phụ áo đỏ: Vậy thì tại sao người ta không thể sống vô tư hơn được. Chính sự vô tư  mới là điều cần thiết để cho cuộc đời có ý nghĩa hơn. Và cuộc đời cũng chỉ cần những kẻ vô tư như vậy thôi.
Tác giả: Vô tư theo cái kiểu ấy của mình thì có khác gì kẻ sáng mà cứ giả bộ làm đui. Mà nói thế chứ, anh cũng đã làm đui chính mình trong bao nhiêu lâu nay rồi.
Thiếu phụ áo đỏ: Thiên hạ  người ta cũng đều như  thế hết cả đấy, mình ơi !
Tác giả: Thiên hạ khác, anh khác. Mọi người có thể ai cũng đều biết dối trá, nhưng không phải ai cũng là người cầm bút cả. Cầm bút mà lại dối trá thì đó là một trong những điều tệ mạt nhất ở trên cõi đời này !
Thiếu phụ áo đỏ: Thôi.. thôi... Mình lại sắp sửa tự mâu thuẫn mất rồi. Bởi vì, nói thế chứ nếu như có ai khuyên mình, bắt mình bẻ bút đi thì mình sẽ lại gầm thét như  kẻ đã bị xô đẩy oan ức vào trong vòng ngục tù. Thôi, em đã chán ngấy lên vì cái tính cách trái khoáy ấy của mình rồi. Mình đứng dậy đi. Sắp đến giờ trình diễn rồi.
Tác giả: Anh chưa muốn đến. Anh chưa muốn phải chứng kiến những nhân vật trong vở kịch đã bị ruồng bỏ trong ý nghĩ của anh.
Thiếu phụ áo đỏ: Nhưng em có cảm tưởng nếu ngồi rốn thêm chút nữa thì chúng mình lại gấu ó nhau. Rồi chuyện này qua chuyện kia, cái nhỏ qua cái lớn, mọi sự đều bỗng nhiên trở nên bất ổn hết.
Tác giả: Hạnh phúc của chúng mình chỉ mỏng manh đến thế thôi sao? Mình lúc nào cũng sẵn sàng có ý nghĩ là chúng ta luôn bất đồng ý kiến với nhau !
Thiếu phụ áo đỏ: Em nhận thấy bao giờ thì mình cũng cứ trách người ta trước mà không bao giờ tự xét chính mình.
Tác giả: A !  Vậy thì anh sai !  Vậy thì anh phải tự xét  mình ! Em bao giờ cũng luôn luôn đúng !
Thiếu phụ áo đỏ: Thôi, em xin. Cứ coi như là em nói sai. Mình không phải cứ tự đem mình ra mà dằn vặt như thế.
Tác giả: ( Ôm đầu , cúi gục xuống hai bàn tay đặt trên đùi. Một giây im lặng , rồi ngẩng đầu lên, đôi  mắt  đục ngầu) Cái đau đớn nhất của anh là anh không biếtphải hành động thế nào cho hợp lý cả. Anh vẫn muốn làm vừa lòng mọi người mà không thấy bị dằn vặt . Anh vẫn có thiện chí.
Thiếu phụ áo đỏ: Mình cứ việc làm theo ý muốn của mình. Có ai bó buộc đâu. Tại sao mình cứ tự làm khổ mình như thế ?
Tác giả: Mình không hiểu. Không hiểu gì hết !
Thiếu phụ áo đỏ: Vâng, có lẽ là như thế. Cái đám mây mù cứ lẩn quẩn bao phủ giữa hai chúng ta chính là vì em đã không hiểu  gì hết. Em đã cảm thấy quá mệt mỏi về những điều đó rồi.
Tác giả: Mình nói thế là mình đã bắt đầu có ý nghĩ chối bỏ thương yêu và hạnh phúc giữa hai chúng ta à?
Thiếu phụ áo đỏ: Mình tin là em đang có hạnh phúc à ?
Tác giả: ( quay sang nhìn sững thiếu phụ với đôi mắt thảng thốt, rồi sau một lúc lâu im lặng, cất tiếng thở thật dài) : Thôi được, mình đứng dậy đi vào rạp trước đi. Anh còn muốn ngồi lại đây thêm một chút nữa.
Thiếu phụ áo đỏ: Ồ, không !  Em không tới đó nữa đâu.
Tác giả: Cái gì? Mình nói sao? Mình định không thèm xem vở kịch của anh trình diễn kịch ngày hôm nay sao ?
Thiếu phụ áo đỏ: Em đã tính như thế. Nhưng nhất thiết là không có vấn đề thèm hay không thèm. Anh đừng dùng những từ ngữ như thế cho nó nặng lời !
Tác giả: Dù nói cách nào thì vẫn là em không muốn vào xem một vở kịch do chính người thương yêu nhất của mình đã viết ra. Hừ ! Anh  biết mà. Anh biết là đã bị phủ nhận  ngay từ người thân cận  nhất của mình .
Thiếu phụ áo đỏ: Đừng nghĩ như thế. Em đâu có nhiều đầu óc gì để mà nói chuyện phủ nhận với không phủ nhận. Ngôn ngữ của em rất đơn giản, không có gì rắc rối khó hiểu để cho mình phải ngộ nhận đâu. Em chỉ không chịu được cái hơi người ngột ngạt trong suốt ba tiếng Ïđồng hồ liên tiếp. Thế thôi !
Tác giả.:Mình không phải là loại người không biết chịu đựng để chia sẻ. Mà lại là sự chia sẻ trong một dịp trọng đại như thế này. Nhưng  thôi, anh biết rồi, anh đồng ý với mình là vở kịch chẳng có gì hay ho để bó buộc được ai. Anh chỉ buồn có một điều là mình đã không còn nồng nàn ngay cả trong sự  ẵn sàng chia sẻ với anh về những hậu quả chắc là chẳng hay ho gì của vở kịch sẽ tạo ra.
Thiếu phụ áo đỏ: Ô! Mình đừng có bi quan. Em tin là vở kịch sẽ thành công. Tên tuổi của mình sẽ lừng lẫy!

                                  (còn tiếp)


Read more
Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014
no image



                                           (tiếp theo)


Đến đây, tôi nói sơ qua về chuyện ăn uống trên đảo khi đó. Phải nói nhờ có anh Tấn mà chuyện ăn uống mới có quy củ chứ không thì vẫn cảnh giành giựt mạnh ai nấy lấy, mạnh ai nấy ăn. Ít giờ trước đó, mấy phụ nữ vừa nấu xong một nồi cháo ốc cho bữa ăn sáng thì xẩy ra cảnh giành giựt. Cháo chín tới, ghe chỉ có vỏn vẹn bốn cái chén sành và một cái tô nhựa. Người nấu cháo đã nói lần lượt từng người tự giác ăn một chén còn để chừa phần cho người khác. Có hai gã thanh niên chen vào giành chén, múc cháo ăn trước tiên. Khi húp cạn chén cháo, hai gã tỉnh bơ múc đầy và ăn tiếp mà không chuyền cái chén cho người khác đang chờ đến lượt. Hết chén thứ hai sang chén thứ ba thì có người lên tiếng nhắc nhở. Hai gã vẫn gục mặt ăn tiếp làm như không nghe thấy gì hết. Một trận xô xát nhỏ đã xẩy ra giữa hai gã với những người khác. Hai gã thanh niên đó ở trong đám nhập chung với chúng tôi tại bến xe Hà Tiên khi nhóm tổ chức nhét thêm khách. Hai gã còn trẻ, to xác nhưng rất lười. Cứ nằm yên hay ngồi chơi tại chỗ. Mặc ai đi bắt ốc, ai đi gom củi nấu mì gói nấu cháo thì đi. Hai gã không hề giúp một tay. Khi nồi mì nồi cháo nấu xong, hai gã nhào vào ăn trước. Ăn rất hỗn, chẳng biết nhường phần người sau. Có người còn bắt quả tang hai gã lục túi xách của người khác khi còn ở dưới ghe. Xô xát xẩy ra. Hai thanh niên thật hung dữ, đuổi đánh những người chống lại... buộc anh Tấn phải vào cuộc. Anh Tấn chạy tới can ngăn thì bị một trong hai gã đánh luôn. Dù vóc dáng nhỏ con nhưng anh Tấn ra ngón võ thế nào mà chỉ loáng một cái, hai gã thanh niên nằm thẳng cẳng ngay đơ dưới đất. Vài người chạy đến hai gã tính đánh trả thù nhưng anh Tấn cản lại, không cho.

- Đ.M hai thằng mày, thứ sâu bọ ham ăn giành uống như vậy sao không ở với Cộng Sản mà vượt biên làm gì? Cỡ chúng mày ra nước ngoài chỉ tổ làm người Việt nhục lây. Hôm nay tao tha nghe con. Muốn nhịn hai thằng mày mà không được. Còn cà chớn nữa tao sẽ lấy mỗi thằng một bóng đèn đó. Biết chưa? Anh Tấn hùng hổ quát.

Hai gã thanh niên van lạy rối rít, xin anh Tấn và người trên ghe xí xoá lỗi của chúng đã làm. Nhờ vụ xô xát, tất cả người trên ghe đã răm rắp nghe theo lời anh Tấn. Tự nhiên anh đã thành leader. Ở đâu, trong bất cứ sắc dân nào cũng có bọn người lười biếng, ích kỷ như hai gã thanh niên.

- Hù tụi nó cho sợ thôi. Cho bỏ cái tính côn đồ đi. Anh Tấn nói nhỏ với tôi và Dũng.

Chúng tôi từ từ chia đều thức ăn trong hai thùng nhựa cho mọi người cùng ăn. Lần đầu tiên trong đời tôi nếm món ăn của Thái Lan. Hết cơm nếp nóng với tôm thẻ rang chung ớt đỏ khô cùng món xoài xanh bóp gỏi với cá mắm... lại ăn kèm với đường Thốt Nốt. Cuối bữa, chúng tôi nhai nhóp nhép bánh ngọt, kẹo và giải khát bằng các lon Coca Cola trong làn khói thơm của thuốc lá thơm Samit hoặc Gold City từ miệng mũi phả ra. Một bữa ăn quá sức ngon miệng.

Ăn uống no nê, mọi người tản ra nằm hoặc ngồi dưới các bóng mát tán chuyện với nhau còn hai tài công cũng bỏ mặc không sửa máy ghe nữa. Họ no bụng nên muốn nghỉ ngơi hay thực sự biết không thể sửa cho máy chạy được? Tôi, Ánh Phương, Mỹ An và Dũng ngồi quây quần bên nhau... nói chuyện về chiếc tàu Thái Lan. Liệu có phải chiếc tàu tối hôm qua pha đèn vào mình không? Anh Tấn rồi nhóm người của hai tài công đang ở gần cũng bước lại ngồi nhập chung bọn, cho biết:

- Không biết có phải nó hay không nữa? Trời khuya ai thấy rõ được nhưng tàu sáng nay là tàu Thái hiền, không phải tàu Thái hải tặc. Tiếc cái tàu họ chạy mất tiêu rồi.

- Phải chi mấy ông nhờ hai người Thái này lên ghe coi hộ cái máy không chừng họ sửa dùm cho mình luôn đó. Tại sao mấy ông không làm vậy? Một phụ nữ ngồi gần chen vào.

- Trời! Bà nói dễ nghe ha! Tụi tui biết họ định làm gì mà nói... Với lại, thấy tụi tui cầm dao búa trong tay, họ còn không dám lội lại gần kìa. Mà ai để cho họ leo lên ghe? Một tài công vặn lại.

- Mấy ông quá dở thì có. Thấy cho mình đồ ăn, biết họ người hiền lành chứ... Phải chụp cơ hội nói họ giúp. Không biết tiếng Thái thì làm dấu để họ biết chuyện mình cần. Con không khóc mẹ nào cho bú. Phải không? Có mặt trên ghe tui làm như vậy liền. Mấy ông nhìn họ có đeo tượng Phật không? Người phụ nữ tiếp.

- Thôi chị Hai ơi! Lúc đó chị cũng chạy núp mất tiêu rồi còn nói ngon. Người tài công đáp trả.

Mặt trời giờ đã đứng bóng. Gió mát từ hướng biển thổi vào liên tục và nhờ ở dưới bóng các tàn cây nên không ai cảm thấy nóng. Có làn gió mát, mọi người tự động tản ra đi về chỗ của mình nằm ngủ trưa. Tôi đến bên Ánh Phương, nàng nhìn tôi và nói: 

- Anh đừng nằm xa chỗ em để có gì thì giúp em. Tự dưng gặp cái tàu pha đèn tối hôm qua rồi cái tàu cho đồ ăn ban nãy nữa làm em lo quá anh Vũ. Đừng để em một mình, em sợ lắm. Anh phải che chở cho em nha. 

Tôi nhìn khuôn mặt Ánh Phương. Một lần nữa nhủ thầm, cô gái quá đẹp. Tại sao Ánh Phương dám đi vượt biên? Sao mà lường hết các chuyện sẽ xẩy ra. Ghe có thể bị công an biên phòng bắt. Có thể bị chìm vì bão hoặc hư máy như hoàn cảnh hiện tại. Nhìn Ánh Phương, tôi không dám nghĩ đến câu có thể gặp hải tặc. Tôi cũng cảm thấy một niềm vui đang dâng tràn khi vừa nghe nàng nói. Có thể trong mấy ngày qua, chúng tôi kề cận bên nhau để nàng nghĩ tôi như người thân thiết bên cạnh. Cũng có thể đơn giản nàng chỉ xem tôi như anh trai ruột nàng. Còn tôi, nghĩ sao về Ánh Phương? Tôi thật chưa biết! Thấy tôi im lặng, Ánh Phương khe khẽ:

- Anh Vũ! Anh phải che chở cho em nha. Che chở em.

Tôi vội gật đầu, nàng nở miệng cười thật tươi trong ánh nắng chiếu xiên qua kẽ lá. Tận bây giờ, tôi vẫn nhớ khuôn mặt và nụ cười của Ánh Phương. Răng nàng trắng đều như bắp trong làn môi đỏ thắm. Khuôn mặt trái soan trắng hồng với vài gân máu li ti ở gò má cùng với cặp mắt sáng dưới hàng lông mi cong đen. Ánh Phương! Ánh Phương ơi! Em đẹp quá. Thật kỳ lạ! tôi có các em gái ruột trạc tuổi Ánh Phương. Cũng mặt mũi cũng vóc dáng như nàng. Có bao giờ tôi ngồi sát cạnh bên để nhìn rõ khuôn mặt các em gái tôi như đang ngồi đây với Ánh Phương. Tôi nhìn Ánh Phương lần nữa để biết con gái Việt Nam thật đẹp. Cầm đôi bàn tay của Ánh Phương rồi tự nhiên tôi đưa lên mũi tôi. Mùi hương con gái toả ra từ đôi bàn tay nàng. Ánh Phương để yên và có lẽ tôi cũng sẽ để yên như vậy rất lâu nếu như nàng không mắc cỡ, rụt tay lại. Ánh Phương lí nhí nói nhỏ: " Mỹ An nó đang nhìn kìa, mình nằm nghỉ đi anh Vũ ".

Tôi biết Ánh Phương lo lắng khi thấy máy ghe hư không sửa được và nếu bị kẹt ở đảo rồi thân gái sẽ ra sao nếu như không có người thân thích bên cạnh? Nàng đã nói như vậy với tôi, tôi nhủ thầm: " Ánh Phương ơi! Dù em không nói ra, tôi cũng tự cảm thấy có bổn phận phải che chở cho em ". Tại sao vậy? Tôi đã có cảm tình với Ánh Phương hay vì mình đàn ông con trai phải xử sự như vậy với con gái. Tôi cũng lo lắng như nàng chứ. Tôi nghĩ thêm thức ăn rồi sẽ hết và sẽ ra sao? Nhìn các người khác đang yên lặng nằm mở mắt nhìn lên các tán lá cây. Dù không ai nói ra, tôi cũng biết người nào cũng lầm thầm trong bụng mong được gặp lại con tàu Thái Lan hồi sáng. 

Đang chìm trong giấc ngủ trưa, tôi tỉnh giấc vì tiếng hét lớn: " Cái tàu hồi sáng kia kìa bà con ơi ". Tôi và Ánh Phương choàng dậy ngay. Thật linh như thần khẩu. Đúng nó rồi. Con tàu chạy ngang trước mặt chúng tôi cũng một khoảng cách như lúc sáng. Mọi người chạy túa ra vẫy tay, miệng hét lớn. Không biết vì nghe thấy tiếng hét hoặc trông thấy chúng tôi vẫy tay mà chiếc tàu từ từ dừng lại. Một bóng người trên tàu nhẩy xuống biển lội vào bờ hướng về chỗ cả bọn chúng tôi. Không ai còn ý nghĩ phải tìm cách đề phòng chiếc tàu nữa. Gã thủy thủ Thái Lan bước từng bước lên bờ. Gã không phải người cho chúng tôi thức ăn hồi sáng. Gã mặc một quần thun bó sát với chiếc áo phao. Tướng tá trung bình, mầu da vàng như người Việt. Khi đến gần, gã xổ một tràng tiếng Thái Lan. Gã nói tiếp vài câu nữa nhưng vẫn không ai hiểu. Một chút yên lặng nghĩ ngợi, gã Thái Lan nói thêm vài câu khác. Đột nhiên có người trong chúng tôi vọt miệng trả lời y. Hai bên đối đáp qua lại từng câu. Thì ra gã thủy thủ là người Thái gốc Tàu Triều Châu. Người bên chúng tôi nói chuyện được với gã là cô gái Việt gốc Tàu vùng Bạc Liêu. Cô A Muối có tên Hồng Thu Lan. Chúng tôi nhờ cô cho gã thủy thủ Thái Lan biết về tình cảnh của cả bọn. Theo lời gã, tàu Thái Lan trên đường quay về
Bangkok trông thấy chúng tôi vẫy tay, reo hò nên chủ tàu mới dừng lại rồi cho gã lội vào bờ tìm gặp chúng tôi.

- Nói họ tiện thể chạy về
Bangkok thì kéo ghe mình theo luôn đi A Chế... Mấy người vây chung quanh cô Hồng Thu Lan thúc hối.

                              (còn nữa)

Read more
Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014
YÊU THỜI  ĐỒ ĐỂU - KỲ 128



                                   (tiếp theo)



Giọng ông Giám đốc nài nỉ :
“Anh ôi, con bé này nó dân miền núi, cứng đầu cứng cổ lắm. Không cho nó về  nó dám làm liều lắm…”
Ong Sáu Thượng chợt nghĩ ra lối thoát :
“ Hình như tỉnh anh có nhà khách ở Hà Nội ?”
Ong Giám đốc nhà khách rối rít :
“ Dạ vâng..vâng…nằm ngay ngoại thành Hà Nội ạ …”
Ong Sáu Thượng mừng rỡ :
“ Vậy tốt rồi, anh cứ đưa nó về theo và bắt nó nằm im trong phòng kín ở nhà khách nhé.”
Ong Sáu Thượng đặt máy xuống và chợt thấy nóng ran cả người. Vậy là ông sẽ gặp lại cô nhân tình be bé vừa ngây thơ vừa rực lửa mà chỉ qua vài đêm ngắn ngủi đã tạo cho ông những ấn tượng sâu đậm mà mỗi khi nhớ tới ông cứ muốn bỏ tất cả mọi  thứ ở Hà Nội bay lên Tây Bắc ghì xiết lấy nỗi khao khát ông phải đào sâu chôn chặt trong lòng.
Hai ngày sau vào buổi tối đang trong phòng làm việc ở nhà chợt có chuông điện thoại và giật bắn người khi có tiếng gã Giám đốc nhà khách báo tin cô Thật đã về tới Hà Nội và đang đòi ông tới ngay lập tức. Ong chưa kịp trả lời, trong ống nói đã vang lên tiếng nó léo nhéo :
“ Tới ngay, tới ngay…”
Ong vội rối rít :
“Được rồi, được rồi…cứ chờ đấy…”
Ong đặt vội máy xuống và mở cửa ghé nhìn vào phòng ngủ. Cô vợ vẫn ngồi trước bàn phấn tỉa tót lông mày dường như không biết gì tới cú điện thoại ông vừa nghe. Trống ngực đập thình thịch, ôi chao ôi, lỡ chẳng may con cọp cái biết thì cả ông lẫn con bé kia có trốn lên trời cũng không thoát .
Sáng hôm sau tới cơ quan, ông phải chủ trì một cuộc họp rất quan trọng mà trong lòng như lửa đốt. Mọi lần ông nói rất dài, xoáy sâu vào những vấn đề ông cho là quan trọng và bắt mọi người cùng thảo luận. Riêng hôm nay, ông cứ muốn họp nhanh nhanh để lẻn tới chỗ cô Thật . Chà chà, chắc con bé sốt ruột lắm đây. Sợ nhất là nó không chờ được , nổi điên lên xộc tới cơ quan tìm ông thì thế nào cũng lọt tai mắt của vợ ông thì hỏng hết mọi chuyện. Bởi thế ông đưa mắt đầy ác cảm nhìn gã Trưởng phòng đang phát biểu ý kiến xoay quanh việc phân nhà .  Oi chao ôi cái thằng  cha này nói dai như đỉa đói, gã đưa ra hết thông tư này đến chỉ thị kia, viện dẫn lời anh Ba, anh Năm, anh Bảy xoay quanh chỉ có mỗi đề tài là so với tiêu chuẩn của chính gã thì cái căn hộ của gã hiện nay còn thiếu những … 3 mét vuông bởi vậy gã tha thiết đề nghị cơ quan đổi cho hắn căn hộ khác để đảm bảo đúng chính sách cán bộ.
Ong Sáu Thượng vừa định giải tán cuộc họp khi gã Trưởng phòng vừa dứt lời thì lập tức bà Vụ phó giơ phắt tay lên. Và rồi ông chưa kịp có ý kiến, bà ta đã oang oang :
“ Tôi nghe đồng chí Trưởng phòng mới phát biểu mà tôi thấy nực cười. Căn hộ đồng chí đang ở mới chỉ thiếu so với tiêu chuẩn của đồng chí có 3 mét thôi mà đồng  chí  đã kêu ca, gửi đơn đi các nơi, cứ làm như nhà nước không phân nhà cho đồng chí để đồng chí phải đi ra ở ngoài đê vậy. Tôi đề nghị thủ trưởng và các đồng chí Trường phòng thử đến tham quan nhà tôi đang ở thì khắc biết tôi thiệt thòi biết chừng nào. Nhà tôi có 36 mét vuông thôi mà thật đúng là tam đại đồng đường, xoay xở làm sao nhét cho đủ 15 con người thì thử hỏi ở cái cơ quan này, ai là người trước tiên được ưu tiên phân nhà …”
Sau bà Vụ phó thì đến ông chuyên viên 7, sau ông chuyên viên 7 tới ông già Chánh văn phòng sắp về hưu :
“ Báo cáo các đồng chí năm nay tôi đã 59 tuổi rưỡi rồi. Chỉ còn 5 tháng 30 ngày nữa là về hưu. Tôi đã có huy hiệu 40 tuổi Đảng, 45 năm tham gia cách mạng  vậy mà chưa một lần tôi được phân một cái phiếu nghỉ mát nước ngoài…”
Cả cuộc họp cười ồ vì người ta thừa biết ông già này đi nước  ngoài như đi chợ và nếu thống kê những lần lão xách cặp lên máy bay quốc tế dễ phải tới cả trăm  lần. Bị vạch trần, ông  Chánh văn phòng vẫn gân cổ lên cãi :
“ Tôi yêu cầu các đồng chí phải phân biệt rõ “đi nghỉ mát” và “đi công tác” là hai phạm trù khác nhau. Đồng ý là tôi đi ra nước ngoài nhiều lần , nhưng đó là đi công tác bù đầu bù tai chứ có ngày nào được nghỉ ngơi đâu. Bởi vậy tôi đề nghị trước khi tôi nhận quyết định nghỉ hưu, cơ quan phải giành cho tôi một phiếu đi nghỉ mát ở Ý hoặc ở Pháp hoặc cùng lắm ở Thuỵ Điển cũng được…”
Có ai đó kêu to :
“ Đề nghị cho đồng chí Chánh văn phòng phiếu nghỉ mát ở …Lào…”
Cả phòng họp cười ầm. Nhân đó ông Sáu Thượng mới quát tháo ầm ĩ, yêu cầu kết thúc cuộc họp để ông còn đi lên Ban Bí thư báo cáo. Ong hấp tấp vơ vội cái cặp, chạy xuống sân vẫy gã lái xe chở đi gấp. Quen như mọi khi, gã lái xe chạy vào khu Ba Đình nhưng ông Sáu Thượng xua xua tay :
“ Chạy qua cầu Long Biên sang Gia Lâm…”
Gã lái xe tròn mắt kinh ngạc :
“ Thủ trưởng không đi báo cáo à ?”
Ong Sáu Thượng bực mình :
“ Tao đi đâu mặc tao…mà mày nhớ giữ cái miệng…bép xép là tao xử…”
Gã lái xe rối rít :
“Ay chết…ấy chết…em đâu dám…thủ trưởng muốn đi đâu cứ ra lệnh, đi xuống hoả ngục em cũng đi và dứt khoát là sống để dạ chết mang theo…”
Hắn chạy xe qua cầu Long Biên với vẻ nín nhịn của một con chiên sắp xưng tội  trước linh mục. Gã lái xe này được ông Sáu Thượng tuyển lựa trực tiếp từ Trường dậy lái xe Hoà Bình nơi ông có một ông em con ông chú làm  Phó Giám đốc phụ trách tổ chức. Hai năm trước, khi được đề bạt lên Phó ban, ông Sáu Thượng có tiêu chuẩn xe Vonga riêng, lái xe riêng. Ong không tin tưởng tên lái xe mà ông Chánh văn phòng Ban giới thiệu cho ông. Lái xe là người gắn bó khá chặt chẽ với thủ trưởng. Đi công tác, đi xin xỏ cấp trên, đi nghỉ mát, đi ăn tiệc, đi việc riêng như thăm thú họ hàng, chở vợ con đi nghỉ mát, đi chùa chiền….nhất nhất đều phải qua lái xe. Bởi vậy phải tuyển lựa cho được người  tin cậy nhất và thực đáng sợ nếu kẻ thù của mình lại gài được người của nó vào làm lái xe cho mình.
Bài học xương máu của một ông Thứ trưởng Bộ nọ còn nóng hổi. Khi đó, Bộ trưởng đã già, sắp về hưu, ông Thứ trưởng cầm chắc mình sẽ được  thay thế. Phút cuối cùng, ông Thứ trưởng ngã ngửa, không những ông không được thăng chức Bộ trưởng mà còn bị tạm ngưng chức để làm kiểm điểm vì hàng loạt đơn tố cáo ông đang như bươm bướm bay về Ban tổ chức trung ương. Chẳng hiểu sao những chuyện bí mật vô cùng riêng tư của ông mà cũng bị bật mí để một kẻ giấu mặt nào đó đưa vào đơn tố cáo ông. Nào là ngày mấy tháng mấy ông đi đánh bạc tại những đâu, những đâu. Nào là ngày mấy tháng mấy ông chở gái đi Đồ Sơn và trọ tại những khách sạn nào. Ong Thứ trưởng cay đắng nhận ra rằng từ lâu gã lái xe đã bị kẻ thù trong Bộ của ông mua  đứt từ lâu.
Lái xe riêng quan trọng như vậy nên ông Sáu Thượng phải cất công lên tận Hoà Bình tới trường lái xe để nhờ ông em con ông chú tìm giúp một người tin cậy.

                             ( còn nữa)


Read more
Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014
HẺM BUÔN CHUYÊN - KỲ 156 - “ Xin lỗi … tôi chỉ là con đĩ ”


       

                          

Mấy hôm nay xăng lại tăng giá khiến thằng Bảy xe ôm  than thở :
“ Cứ cái đà này  xe Honda ôm phải chuyển sang xe đạp ôm mất thôi…”
Cô Phương cave láu táu :
“ Ay…ấy…mày muốn chuyển sang xe đạp thì phải tậu ngay . Mấy bữa nay xăng tăng giá người ta bỏ xe máy đổ xô tậu xe đạp làm tăng giá rồi…”
Bà Năm củ cải rền rĩ :
“ Thiệt hôn…cô Phượng nói thiệt hôn …chiều nay tính mua xe đạp cho thằng Ut đi học nè, xăng cao ngất ngưởng  chỉ có nước đạp xe.  ?”
Cô Phượng cave cao giọng :
“ Thiệt chứ giỡn sao ? Thím Năm không mua ngay nay mai nó lên một triệu đó…”
Thằng Bảy xe ôm than vãn :
“ Phú quý giật lùi…nước ta lại quay về thời bao cấp rồi còn đâu. Kiểu này đến phải trở về quê đi cày thôi…”
Ong Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Vừa phải thôi mày, giờ ai cho mày về quê cày ruộng ? Đất đâu ? Bán hết cho nước ngoài làm sân gôn hết rồi. Dưới miền tây nông dân không cầm cày nữa chuyển sang cầm gậy đánh  gôn cả rồi…”
Thằng Bảy xe ôm la lên :
“ Chèn đéc ôi…nông dân chơi sang quá ta? Ở các nước phải  cỡ tư bản mới cầm gậy đánh gôn. Nước mình nông dân khỏi cầy ruộng cứ chơi gôn vậy thì ơn đảng ơn chính phủ suốt đời còn gì ?”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Sao mày ngu lâu quá vậy Bảy ? Gọi là bỏ cày cầm gậy đánh gôn không phải là được chơi gôn như mấy ông chủ mà là cầm gậy theo hầu …”
Thằng Bảy xe ôm thắc mắc :
“ Không lẽ quê mình là xứ lúa mà tệ vậy sao chú Tư gà nướng ?”
Ong Tư Gà nướng than vãn :
“ ở đâu không biết ở quê tao ruộng vườn phá sạch hết trơn . Thằng Năm em tao , từ xưa tới nay có một hecta vườn, trung bình mỗi năm thu nhập 200 triệu đồng đủ nuôi sống cả nhà 20 con người già trẻ lớn bé. Mới đây nó mới biên thư báo Nhà nước thu hồi sạch cả hecta vườn làm sân gôn rồi…”
Thằng Bảy xe ôm reo lên :
“ Vậy là em chú Tư Gà Nướng có tiền tỉ tiêu rồi. Nhà nước  đền bù bộn tiền chớ bộ ?”
Ong Tư Gà nướng vọt miệng chửi :
“ Mẹ kiếp, nó đền bù theo giá thị trường thì còn nói gì, đằng này nó trả cho mỗi mét có mấy chục ngàn thôi à, trong khi đó nó bán cho thằng nước ngoài làm sân gôn nó giã cả mấy chục triệu đồng một mét lận. Bởi vậy dân mới rần rần khiếu kiện. Khiếu kiện thì ăn thua mẹ gì, nó bắt bớ, nó đánh đập, nó vu cho là “phản động ” xúi giục chống phá Nhà nước…”
Bà Năm củ cải thở dài sườn sượt :
“ Mất ruộng mất vườn vậy rồi làm sao sống ?”
Ong Tư Gà Nướng trợn mắt :
“ Thì vợ chồng con cái bồng bế nhau lên Sàigòn ăn xin ăn nhặt chớ còn làm sao ? Nhà nào có con gái còn đỡ, bán cho Đại Hàn, Đài Loan bố mẹ cũng còn được dăm bảy chục triệu làm vốn lót tay…”
Gã Ký Quèn cười cười :
“ Hèn chi mới đây có thằng chả làm bài thơ quê tôi đọc thấy thảm..”
Cô Phượng cave vội vàng :
“ Thơ sao anh Ký Quèn?”
Gã Ký Quèn hắng giọng đọc :
“Ngay tại làng tôi
Yếm thắm lụa đào
Ngực cau nhu nhú
Đã vội đi xa…”
Thằng Bảy xe ôm vỗ tay reo to :
“ Hay hay…”ngực cau nhu nhú” thì chắc mới 13 thôi chứ mấy? Mà đi xa là đi đâu anh Ký Quèn ?”
Cô Phượng ca ve gắt :
“ Trời đất ôi , sao cái thằng này ngu lâu vậy ? Đi xa tức là đi sang Hàn Quốc, Đài Loan bán thân chứ còn đi đâu nữa ?”
Gã Ký Quèn xua xua tay :
“ Im nghe này…còn câu này nữa mới ghê này :
“Đất bán hết rồi
Chỉ còn nho nhỏ
Nghĩa địa xa xa…”
Mọi người im lặng, không khí nặng nề. Chợt ông Tư Gà Nướng lên tiếng :
“ Sai…sai hết …ở quê tao nghĩa địa nó cũng giải toả bằng sạch…làm gì còn “nghĩa địa xa xa” nữa ?”
Thằng Bảy xe ôm láu táu :
“ Chú Tư Gà nướng nói đúng đó ? Nghĩa địa mà nằm trong quy hoạch sân gôn thì nó cũng chơi láng hết…Không lẽ mấy ông tây vừa đánh gôn vừa ngắm mồ mả à ? Ai dám để vậy ? Cứ rót đô la cho thật nhiều thì mai kia có khi cái…mả tổ nó cũng giải toả…”
Bà Tổ trưởng léo nhéo :
“ Mày bảo mà tổ nó là ai ?”
Ong đại tá hưu đập bàn cái rầm :
“ Thằng Bảy xe ôm kia ! Mày không được xúc phạm biểu tượng thiêng liêng của dân tộc nha. ? “
Thằng Bảy xe ôm gân cổ cãi :
“ Thì cũng ví dụ vậy thôi. Giả tỉ như giờ thằng Mỹ nó đổ vào chỗ đó 10 tỷ đô la xây dựng khu vui chơi giải trí coi , đến mộ vua Hùng nó cũng giải toả nói gì đến mả cụ Hồ ?”
Cả quán cười  ồ. Ong đại  tá hưu lại đập bàn quát to :
“ Bố láo…chúng mày ăn nói quàng xiên vậy tao báo công an còng cổ tuốt luốt  giờ ?”
Gã Ký Quèn xua xua tay :
“ Thôi thôi không nói chuyện mồ mả, lăng mộ nữa, xui thấy mồ tổ. Trong bài thơ đó còn hai câu thơ đố vui hay lắm …”
Cô Phượng cave vội vàng :
“ Đố vui sao anh Ký Quèn ? Mà đố vui có thưởng không ?”
Gã Ký Quèn vội vàng :
“ Ay không …có phải “ai là triệu phú”  đâu mà  có thưởng ?”
Thằng Bảy xe ôm sốt ruột :
“ Không thưởng cũng được, anh Ký Quèn thử đọc cho bà con đoán coi…”
Gã Ký Quèn hắng giọng :
“ Vầy nè :
“ Đàn trâu
Lững thững qua cầu
Đất bán hết rồi …
Đàn trâu về đâu ?”
Thằng Bảy xe ôm cười cười :
“ Thì không còn đất kéo cày nữa thì  trâu kéo xe  ?”
Cô Phượng cave trợn mắt :
“ Bộ mày không biết Chính phủ có lệnh cấm xe thô sơ rồi còn đâu xe cho trâu kéo ?”
Thằng Bảy xe ôm tần ngần :
“ Ừ nhỉ….đất bán hết rồi…đàn trâu về đâu nhỉ ?”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Có vậy mà cũng không đoán ra. Đất bán hết rồi thì trâu về …lò mổ chứ còn về đâu ?”
Cả quán cười ầm ầm.Gã Ký Quèn xua xua tay :
“ Yên trí…yên trí…bữa trước ông Thủ tướbg Nguyễn Tấn Dũng đã xin lỗi doanh nhân về cái vụ xí nghiệp đóng cửa rồi…Mai mốt nhất định ổng sẽ xin lỗi nông dân vụ mất ruộng…”
Cô Phượng cave uốn giọng véo von :
“ Xin lỗi em…ngàn lời xin lỗi em…”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Không phải , không phải, vầy nè…xin lỗi tôi chỉ là con đĩ…”
Ồn đại tá hưu vỗ bàn cái rầm :
“  Thằng Ký Quèn kia, sao mày dám bảo Thủ tướng là con đĩ hả ?”
Gã Ký Quen gân cổ cãi :
“ Đó là chú Ba nói nha. Tôi nói đây là nói cuốn sách “ Xin lỗi tôi chỉ là con đĩ ”của nhà văn Trung Quốc, Tào Dinh viết do Trang Hạ dịch, xuất bản tại Việt Nam nha. Đâu có dính gì đến ông Thủ tướng.
Ong đại tá hưu ngẩn người , mặt tái nhợt làm cả quán lại cười ồ…”


2-5-2014



Read more
Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014
BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 106


                              (tiếp theo)



“Lão già” gật gù :
“ Như vậy chứng tỏ xã hội nào cũng thế, chỉ khác nhau cái giàu nghèo thôi. Nếu nhiều tiền như nước Mỹ thì ở Việt Namngười ta cũng đưa hết các cụ già vào viện dưỡng lão chứ chẳng để nhà làm gì khổ con khổ cháu.”
Chị Kelly Thi đồng tình :
“ Đúng là tất cả đều do cái túi tiền mà ra cả thôi. Ở bên này mình xài mấy  ống kem gội đầu , kem rửa mặt vài lần rồi vứt là chuyện thường. Tôi có cô bạn ở Việt Namsang chơi, lúc về tôi nói cô  mấy ống kem gội đầu, kem dưỡng da chắc phải bỏ lại thôi, hải quan Mỹ nó không cho đem lên máy bay đâu. Cô bạn nghe lời bỏ lại hết. Cô về Việt Namđược mấy hôm , tôi lấy ống kem dưỡng da ra xài thử. Tôi bóp mãi, bóp mãi chẳng ra tý kem nào. Hoá ra cô bạn tôi đã bóp hết ruột cho vào túi ni lông mang theo về Việt Nam. Mấy ống kem để lại chỉ còn cái vỏ…”
“ Lão già” trợn mắt :
“ Í trời ơi…”kẹo” đến thế kia à ? Bóp cả kem gội đầu , kem dưỡng da mang về Việt Namkia à ?””
Chị Kelly Thi cười cười :
“ Ban đầu tôi cũng tức cười cô bạn rị mọ, “kẹo” quá. Nhưng sau nghĩ lại, nếu cô sẵn tiền như mình thì chẳng đến nỗi thế, chẳng qua ở nhà đồng tiền eo hẹp quá, mua được ống kem dưỡng da đâu phải dễ dàng gì. Bởi vậy cô ấy bóp kem cho bịch ny lông mang về Việt Namkể cũng phải, cần cảm thông …”
Bác Ba Phi tán thành :
“ Chị Kelly Thi nói đúng đó. Ngay như ở nhà tôi , con vợ thằng Đậu có dám mua kem dưỡng da với kem gội đầu gì đâu. Có cục xà bông xài đủ thứ là sang lắm rồi.”
Bà chủ nhà cũng góp chuyện :
“ Đời sống khó khăn bạn cô làm thế phải rồi, đừng có cười người ta. Còn nhớ hồi năm 75-76 kẹt lại Sàigòn, nhà tôi có 4 người , mỗi tháng được 20 gam bột ngọt. Oi chao ôi, mỗi bữa nấu canh chỉ dám lấy cái tăm gảy gảy vài hạt , thật chẳng khác gì   thuốc đau mắt của ông bà mình ngày xưa. Nhưng cô bạn của cô vậy là thuộc tầng lớp bình dân rồi. Còn các cô tiểu thư đại gia hay con ông cháu cha thì xài toàn hàng hiệu Chanel, Versace…vài chục ngàn đô cả thôi. Đến mình dân Mỹ cũng không dám sờ tới…”
Rồi bà chủ mời mọi người ngồi vào bàn ăn trưa. Bác Ba Phi nhìn quanh quẩn, thắc mắc :
“ Vậy còn ông nhà đâu ?”
Bà chủ cười  buồn :
“ Ông nhà tôi mất được vài năm nay rồi. Cũng do mấy năm tù cải tạo dưới chế độ cộng sản phải làm việc cực nhọc ăn uống thiếu thốn nên ông bị lao phổi. Sang đây chữa chạy mãi cũng chỉ cầm cự được ít năm thôi…”
Bác Ba Phi nhìn quanh nhà từ phòng khách vào phòng ăn nhà bếp cũng chẳng thấy trang thờ có thắp nhang treo hình thờ ông chồng bà chủ quán. Không giống như bên Việt Nam, bước vào nhà là thấy cái trang thờ to tổ chảng với hình những người thân đã chết, bên Mỹ này hình như người ta không chú trọng chuyện thờ cúng, giỗ chạp cho lắm.
Bà chủ dọn món ăn ra , giới thiệu :
“ Đây là món canh dưa nấu cá trê, món ông nhà tôi rất thích. Món này là món Bắc, ông ấy nói ngày xưa ở ngoài Hà Nội cứ khi chớm rét mẹ ông lại nấu món này cho cả nhà quây quần ăn cho ấm người…”
Chị Kelly Thi nếm thử khen rối rít :
“ Oh My God…ngon quá…vừa chua vị dưa lại vừa ngọt vị cá…một hương vị rất đặc biệt chắc chỉ có ở món ăn Việt Nam…chị chỉ cho em cách nấu coi sao !” 
Bà chủ nhà sung sướng :
“ Món này tưởng đơn giản mà hoá ra cầu kỳ lắm…Trước hết phải có sườn lợn chặt khúc, nấu lên cho sôi rồi đổ bỏ nước đầu . Đun đến đâu hớt bọt tới đó. Ninh chừng 45 phút bắc ra chắt lấy nước để nấu canh. Xào dưa với cà chua cho chín dưa rồi đổ nước dùng vào đun thật sôi mới cho cá. Cá trê làm sạch nhớ lấy ra hai cái cục tanh ở hai bên mang. Rán cá lên khử mùi tanh. Ninh cá trên trong canh nhỏ lửa chừng 45 phút là ăn được. Canh dưa cá trê thường ăn với  rau diếp . Ở đây thay bằng xà lách…”
Bác Ba Phi ăn thử, quả thực ngon hết biết. Thật chẳng ngờ lần đầu tiên được thưởng thức món Bắc rất nổi tiếng này không phải ở Hà Nội mà lại ở Mỹ. Kỳ này về nhất định bác phải nói cô Ut nấu thử món canh dưa cá trê này coi sao. Bà chủ quán lấy trong tủ lạnh ra món mới :
“ Đây là món thịt đông ăn với dưa chua chính hiệu Bắc kỳ…”
Chị Kelly Thi kêu lên :
“ Bà này đúng là thổ công Hà Nội thật, đãi khách toàn món 36 phố phường không à ?”
Bà chủ lắc đầu :
“ Ong nhà tôi truyền nghề cho đấy chớ. Tôi sinh ở Sàigòn sau năm 54 làm gì có dịp ra Hà Nội để học nấu món Bắc. Món này cần có bì lợn, nấm mèo tức mộc nhĩ và thịt lợn ba chỉ. “
“Lão già” lúc này mới lên tiếng :
“ Hoá ra ông xã nhà chị là Bắc Ký 54 hả ? Ong ở quân chủng nào mà tù cải tạo lâu dữ vậy ?”
Bà chủ cười buồn :
“ Ong nhà tôi là sĩ quan tâm lý chiến, toàn ngồi văn phòng biên soạn tài liệu , có bao giờ cầm súng bắn giết ai đâu ?”
“Lão già” trợn mắt :
“ Sĩ quan tâm lý chiến mới nặng tội đấy ạ. Tụi cộng sản ngán nhất là công tác tuyên truyền chống cộng sản, chống chiến tranh xâm lược miền Nam. Vậy chắc ông nhà bị tụi nó tra hỏi, hành hạ, tẩy não dữ lắm…’
Bà chủ quán gật đầu :
“ Chuyện đó còn phải nói. Nó hành hạ ông ấy tưởng chết mới tha về. Cũng may nhờ gia đình cũng còn giấu được chút ít tiềnbạc nên mới thuốc thang chữa chạy, bồi dưỡng suốt cả năm trờiông ấy mới sống được…”
“Lão già” trợn mắt :
“ Vậy chắc ra tù ông nhà căm thù cộng sản đến xương tuỷ …”
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Tôi cũng không biết nữa. Chẳng bao giờ thấy ổng nhắc tới cộng sản với Hồ Chí Minh cả. Cũng chẳng bao giờ ổng nhắc tới những ngày trong lao tù. Có ai hỏi tới ông hoặc là im lặng hoặc là lảng sang chuyện khác…”
Bác Ba Phi vui vẻ :
“ Bỏ qua quá khứ vậy mới hay đó ạ…”
“Lão già” quắc mắt “:
“ Bỏ qua sao được ? Cả mấy trăm ngàn binh sĩ và sĩ quan cộng hoà bị giam cầm tra tấn trong nhà tù, cả triệu người chết trên biển vì trốn chạy cộng sản, rồi bao nhiêu tài sản, ruộng đất, nhà cửa bị cộng sản cướp bóc, phá tán, rồi cả bao nhiêu triệu chiến sĩ cộng hoà hy sinh trên chiến trường mấy chục năm nay có được chôn cất trong nghĩa trang, có được thắp nén nhang nào...tội ác tày trời như vậy bỏ qua sao được ? Bao năm nay cộng sản cứ kêu gọi hoà hợp hoà giải dân tộc. Hoà giải sao được nếu chưacó một cuộc thanh toán sòng phẳng ?”
Bà chủ cười cười :
“ Thanh toán bằng cách nào ? Không lẽ nợ máu phải trả bằng máu để rồi lại diễn lại cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt nữa ?”
“Lão già” lắc đầu :
“ Không nhất thiết máu phải trả bằng máu. Mà thật ra là phải như vậy.Nhưng thôi, dân tộc này không cần phải đổ máu nữa. Chỉ cần Đảng cộng sản công khai nhận mọi tội lỗi và công khai xin toàn thể nhân dân cả trong nước lẫn nước ngoài tha thứ , phục hồi danh dự cho những liệt sĩ quân lực công hoà….Lúc đó may ra có hoà giải, hoà hợp…”
Bác Ba Phi nghe mấy nguòi bàn chuyện chính trị nhức đầu nhức óc quá nên cơm xong lẻn ra vườn ngồi một mình dưới gốc một cây xum xuê, râm mát. Bác ngửa cổ nhìn lên thấy những chùm quả lắc lẻo và nhận ra ngay quả vú sữa. Vừa lúc ấy bà chủ nhà đi tới đon đả :
“ Kìa…sao bác Ba Phi không ngồi trong nhà uống trà mà lại ra ngồi đây ?”
Bác Ba Phi ngập ngừng :
“ Tôi ra đây…cho mát…”
Bà chủ nhà ngạc nhiên :
“ Ở trong nàh có máy lạnh mát hơn nhiều chứ ? Ngồi đây mới nóng…”
Bác Ba Phi đành thú nhận :
“ Tôi ra đây ngồi cho các vị ấy tranh luận chuyện chính trị…nghe mãi ..nhức đầu lắm  !’
Bả chủ nhà bật cười :
“ Tôi cứ tưởng bác sống lâu năm dưới chế dộ cộng sản vậy thì phải hay nói chuyện chính trị  lắm chứ ?”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Không ạ…ngược hẳn  lại…bà con cứ bảo thôi ba cái chuyện chánh trị chánh em để Đảng và Nhà nước người ta lo…mình có xía dzô cũng chẳng nhằm nhò gì…”
Bà chủ nhà hỏi gặng :
“ Tôi hỏi thật bác nhé. Vậy bác có tin vào Đảng và Nhà nước sẽ điều hành thật tốt công việc quốc gia xây dựng đất nước thnàh một siêu cường không ?”
Bác Ba Phi ngập ngừng rồi lắc đầu :
“ Tôi không biết…tôi không biết…tôi chưa bao giờ nghĩ tới  chuyện đó…:”
Bà chủ nhà gặng :
“ Bác chưa nghĩ tới hay là bác không tin vào Đảng và Nhà nước sẽ chí công vô tư điều hành đất nước ?”


                    (còn tiếp)
Read more