Open top menu
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con sóng dữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con sóng dữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015
no image

Ngày 13/7, Công an tỉnh Bình Phước cho biết, cơ quan điều tra đã mời 3 luật sư vào trại giam để bảo vệ quyền lợi cho Nguyễn Hải Dương và Vũ Văn Tiến (cùng 24 tuổi) nhằm đảm bảo tính khách quanHai nghi can bị cáo buộc sát hại 6 người trong gia đình ông Lê Văn Mỹ (48 tuổi, huyện Chơn Thành) vừa bị khởi tố về hai tội danh Giết người và Cướp tài sản.
Khai với cơ quan điều tra trước mặt luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình, Tiến thừa nhận hành vi phạm tội như chứng cứ đưa ra. "Vẻ lo sợ, Tiến khai đã 3 lần khuyên can Dương dừng tay ra về nhưng Dương không chịu", nguồn tin của VnExpress cho biết.
Với lời khai đứt quãng, Tiến cho biết, nửa đêm ngày 7/7 được Dương chở đến nhà ông Lê Văn Mỹ, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Khi vừa bước vào cổng, Dương đã xuống tay sát hại em Dư Minh Vỹ (14 tuổi, cháu ông Mỹ). Vì quá sợ, Tiến đã nói với Dương: "Thôi về đi, đừng làm nữa". Tuy nhiên, Dương đáp lại: "Về làm sao được. Đã làm thì làm tới cùng, giờ mà về là lỡ hết việc của tao".
Tiếp đó, cả hai trèo lên lan can lầu một, nơi phòng ngủ của con gái ông Mỹ. Khi vừa lên đến nơi, Tiến lại đòi về khiến Dương vừa trấn an vừa hù dọa.
Lần thứ ba, Tiến cảm thấy chùn tay là sau khi giết chết bà Nga vì tra khảo không được nơi giấu tiền. Nhưng cũng như hai lần trước, Dương đều xua tay bất tuân.
Cũng theo lời khai của Tiến, sau khi đã sát hại hết 6 người trong nhà ông Mỹ, bộ đôi nghe tiếng khóc của bé Na. Dương liền tới ôm bé gái 18 tháng tuổi, dỗ dành cho bé ngủ rồi mới cùng Tiến bỏ đi. Khi đẩy xe ra gần tới cổng, Dương và Tiến tiếp tục nghe bé Na khóc thét bên trong. Ngay lập tức, Dương chạy trở lại phòng để dỗ cho bé gái ngủ ngon rồi mới cùng Tiến tẩu thoát.
Luật sư Hoàng Kim Vinh - Chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Bình Phước - cho hay cùng 2 luật sư đồng nghiệp nhận nhiệm vụ bào chữa chỉ định cho Dương và Tiến từ hôm 12/7. Họ tham gia buổi hỏi cung cùng với cơ quan điều tra trong cả ngày. Bước đầu, cả Dương và Tiến đều khai giống với những gì cơ quan điều tra đã công bố.
Theo ông Vinh, trong buổi lấy cung Tiến khá bình tĩnh còn Dương tỏ vẻ mệt mỏi, liên tục ngáp, mặt úp xuống bàn và thỉnh thoảng xin thuốc hút. "Hành vi của các bị can, nếu có, không còn gì để bàn cãi và bị cả xã hội lên án. Nhưng với trách nhiệm của mình chúng tôi vẫn phải tham gia bào chữa cho họ theo luật định. Ở giai đoạn này chúng tôi chủ yếu xem xét thái độ khai báo của các bị can, tập trung vào việc giám sát xem còn vấn đề gì mâu thuẫn, quá trình tố tụng thế nào nhằm tránh oan sai", ông Vinh nói.
tham-sat_1436793682.jpg
Nhà chức trách tìm dấu vết hung thủ trong căn biệt thự có 6 người chết. Ảnh:Nguyệt Triều
Theo kết quả điều tra ban đầu, nghi phạm Nguyễn Hải Dương thừa nhận có quan hệ tình cảm với Lê Thị Ánh Linh nhưng bị gia đình Linh ngăn cản nên nảy sinh ý định giết gia đình bạn gái cũ, cướp tài sản để trả thù.
Dương lên kế hoạch mua súng bắn bi giá 6 triệu đồng, súng điện giá 2 triệu đồng, dao dài 30 cm, dao bấm, sim rác, găng tay, khẩu trang bịt mặt... Trưa ngày 6/7, Dương hẹn Tiến uống café, rủ đi đòi lại 900 triệu đồng vợ chồng ông Mỹ nợ từ hồi còn là người yêu của Linh. Dương hứa sẽ chia tiền cho cậu bạn.
Đột nhập vào căn biệt thự của ông Mỹ rạng sáng 7/7, bộ đôi đã lần lượt giết 6 người trong gia đình sau khi tra khảo tiền bạc nhưng không được gì. Riêng bé Na (18 tháng tuổi, con út vợ chồng ông Mỹ) không bị chúng sát hại. Trước khi tẩu thoát, chúng lục lọi lấy đi 5 điện thoại, iPad và nhiều vật dụng khác.
Bốn ngày sau khi gây ra vụ thảm sát, Dương và Tiến bị bắt. Khai với cảnh sát, Dương nói rằng khi thấy bé Na khóc, anh ta bế lên và "thấy thương" nên không ra tay.
Read more
Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014
no image




                                 (tiếp theo)

Đứng ngồi lố nhố từng đám nhỏ trong cái bến xe, chúng tôi trông thật khác hẳn với dân Khmer đang có mặt. Vài người Khmer ngồi trong quán gọi nhau nói chuyện mà ánh mắt, ngón tay họ chỉ trỏ về hướng chúng tôi. Tôi, Dũng và anh Tấn nhìn nhau lo lắng. Không người quen trên xứ lạ, túi rỗng tiền mà trời thì sắp tối đến nơi. Chúng tôi sẽ ở đâu, làm gì trong đêm hôm nay? Chợt có tiếng còi tu huýt ré lên cùng giọng nói lớn:

- Chết mẹ! Mấy cha kia bị công an Kampuchia bắt rồi kìa.

Tôi hoảng hốt đưa mắt nhìn. Hai người Khmer đồng phục kaki vàng nghệ như công an Việt Cộng đang chận một nhóm bốn người thằng Minh ở ngay vệ đường trước cổng bến xe. Anh Tấn quay qua nói nhanh với tôi và Dũng:

- Tản ra ngay thôi. Mình chia tay ở đây nghe các em. Tạm biệt Vũ, tạm biệt Dũng.

Mỗi người liền vọt ngay một hướng. Bến xe không có xây tường bao chung quanh và các xe tải, xe chở khách đậu sát trước cửa nhà dân tương tự bến xe trong vùng ngã bẩy Petrus Ký-Sài Gòn. Do đó khi cắm đầu đi thẳng được một khúc đường, gặp có một hẻm nhỏ, tôi vội rẽ vào và bước dọc theo con hẻm dưới ánh sáng của các ngọn đèn đường. Trời bây giờ đã thật tối. Hẻm nhỏ dẫn tôi đi lòng vòng qua các con hẻm khác nữa rồi lại quay ra ngay phía hông cái chợ trước bến xe. Tôi vào trong chợ. Người ra kẻ vô khá đông và cũng chẳng ai để ý đến tôi. Có những gian hàng, người chủ đang thu dọn để nghỉ nhưng có gian hàng khác mới bắt đầu dọn ra bán. Tôi băng ngang qua một khu bán thức ăn. Những xe thùng bán hủ tiếu, cơm, chè, món nhậu... tương tự như bên nước Việt. Mùi xào nấu bốc thơm lừng mũi. Vài người bán hàng vẫy tay mời tôi ghé vào quầy hàng của họ nhưng tôi lắc đầu, im lặng lầm lũi bước. Đi tới lui mãi, sau cùng tôi ra khỏi chợ. Nhìn chung quanh không còn bạn đồng hành trong chiếc ghe với tôi nữa. Chân rảo bước trên con hẻm dọc theo chợ mà trong tôi đang lo lắng nơi nào mình sẽ đi tiếp đây. Gặp một rạp chiếu phim Video nhỏ với các tấm pano quảng cáo hình bộ phim đang chiếu bằng loại chữ Khmer và chữ Tàu, tôi dừng lại đứng gần đám đông người trước cửa rạp chiếu phim. Vờ xem các hình quảng cáo nhưng tôi kín đáo quan sát và lắng nghe tiếng trò chuyện của người chung quanh xem coi có đồng hương Việt Nam không. Không gặp người Việt nào cả. Tôi bỏ rạp chiếu phim, quay ra đi thẳng rồi băng ngang qua một ngã tư vào một khu phố với khá nhiều cửa tiệm đèn sáng choang. Dân Khmer sống ở phố chợ cũng giống người Việt Namdùng mặt tiền nhà làm tiệm buôn bán. Dọc theo con phố, tôi đi ngang một tiệm cà phê có vài khách đang ngồi xem TV gắn ở trên tường. Tôi dừng chân nhìn các cảnh trên TV đang chiếu. Một cô gái trẻ ngồi ở chiếc bàn nhỏ ngay sát hàng hiên ngẩng đầu nhìn tôi, trong tay cô cầm một quyển sách khá dầy. Thấy tôi đứng nhìn vào quán, cô gái hỏi vài câu Khmer. Không hiểu lời cô gái, tôi mỉm cười với cô rồi nhìn xuống quyển sách. Những hàng chữ Việt trên các trang giấy. Tôi nhìn kỹ đúng là chữ Việt. Mừng quá đi! Buột miệng, tôi hỏi liền:

- Cô là người Việt Nam... Phải không? Cô là người Việt Nam?

Cô gái nghe tiếng tôi liền gật đầu, hỏi lại:

- Anh! Anh... thuộc nhóm người Việt vừa có mặt ngoài bến xe lúc chập tối. Phải không?

Tôi gật đầu nhưng thầm nghĩ tại sao cô ta lại biết tôi trong nhóm người Việt ở ngoài bến xe? Thấy tôi đứng yên, cô cho biết khách uống cà phê trong tiệm nói về một nhóm người Duôn vừa xuống xe tại bến đã bị công an Khmer bắt giữ. Công an Khmer bắt vì nghĩ người Duôn đến Kompong Som để tìm cách vượt biên sang Thái Lan. Khi nghe vậy, cô vội chạy ra chỗ bến xe để xem có người quen không. Bốn người đang bị giữ tại đồn công an ở gần cửa chợ còn các người khác bỏ chạy hết. Cô gái kéo ghế mời tôi ngồi, xưng tên Hường rồi tiếp:

- Mấy thằng công an em quen mặt cả. Họ lại đây uống cà phê thường ngày. Em vô đồn công an gặp bốn người bị bắt và nghe họ kể chuyện ghe vượt biên rồi. Em đã nói cho công an Khmer biết nhưng bọn nó nói phải liên lạc với lãnh sự quán Việt Nam trước đã. Em nghĩ họ sẽ thả hết bốn người bọn anh, đừng lo. Nói xong, cô gái quay vào phía trong gọi khá lớn: " Liên, Liên ơi! Ra đây có chuyện này hay lắm ". Một thiếu nữ từ bên trong quầy đi ra. Nhìn mặt hai cô gái, tôi đoán họ trạc tuổi với tôi. Hường nói qua loa với Liên về tôi rồi cả hai dẫn tôi ra phía đằng sau nhà. Ở đó có một phụ nữ Việt khá lớn tuổi đang ngồi ăn cơm tối. Hường, Liên nói là mẹ và giới thiệu tôi với bà. Bà cụ bảo tôi ăn cơm tối chung. Tôi vừa ăn vừa kể cho ba người nghe về chuyến đi bất thành. Sau bữa ăn, tôi xin đi tắm ngay vì từ lúc rời đảo Cô Tan không có nước để rửa ráy, thân thể rất bẩn. Tắm xong, Hường làm cho tôi ly cà phê đá. Uống nó thật ngon, nước lạnh chảy tới đâu tôi cảm thấy mát ngay tới đó. Bà cụ, mẹ của Hường và Liên kể thêm về hoàn cảnh:

- Gia đình tôi đi vùng kinh tế mới tại huyện Vĩnh Cửu thuộc tỉnh Đồng Nai vào cuối năm 1975 sau khi nhà nước đổi tiền mới. Lên đó được vài năm, nhà tôi chết vì sốt rét rừng. Mẹ con tôi chán nản hết sức, muốn trốn về Sài gòn nhưng nhà cửa thì không còn. Chưa biết làm gì thời may gặp cái vụ nhà nước xây cái đập thủy điện Trị An. Một số nhà hàng ở Sài Gòn lên hỏi mua những khu đất gần chỗ xây cái đập để mở hàng quán cho đám công nhân xây dựng. Lô đất nhà tôi lại ngay chỗ nhà hàng cần mua. Họ cho người đến thương lượng. Gặp dịp tôi bán liền lại bán được giá thật hời. Tiền bán khu đất, lúc đầu tôi định về Sài Gòn kiếm mua căn nhà nhỏ rồi liệu kế làm ăn nhưng mấy đứa trong nhà lại nghe lời họ hàng rủ nhau vượt biên. Đám tổ chức vượt biên đường bộ bằng ngã Kampuchia. Một hai bảo đảm sẽ sắp xếp gia đình tôi đi lọt trong vòng tuần lễ. Tính chuyện rất dễ nhưng khi đến được Kompong Som gia đình tôi bị lừa mất sạch vàng. Không vượt biên được nữa, phải ở nhà trọ rồi kéo nhau đi làm thuê kiếm miếng ăn qua ngày, thảm lắm cậu. Bà cụ ngừng kể, mắt khẽ nhắm như đang hồi tưởng những ngày cũ. Một thoáng trôi qua, bà tiếp: " Gia đình phải sống dựa vào đám bộ đội Việt Cộng đóng quân ở đây, tội nghiệp nhất là hai đứa con gái tôi... lúc đó đành phải... ", rồi bà cụ chợt im lặng. Hường ngồi gần tôi, tiếp lời mẹ:

- Cả nhà em dành dụm mãi mới đủ tiền sang lại nhà và mở quán bán cà phê suốt từ đó. Trước đây còn khá đông bộ đội người Việt tụi em buôn bán rất ngon. Bây giờ họ rút về hết rồi thêm người mở quán cạnh tranh làm gia đình em buôn bán cũng kém. Chưa biết sẽ phải xoay trở làm ăn cái gì khác đây? Hầu như người Việt mình từ quê nhà sang Kompong Som đều tính chuyện vượt biên cả nhưng thấy vậy mà đi khó lọt lắm anh. Bị đám tổ chức gạt, có khi còn bị bắt rồi hết tiền không về quê nhà được giống gia đình em nên đành chấp nhận sống ở đây luôn.

- Cái hồi gia đình tôi bị bỏ rơi ở Kompong Som may mắn bộ đội Việt Cộng không thèm bắt nữa. Mấy năm trước vượt biên sang đây đi lạng quạng ở các bến xe hoặc nhà trọ, công an Kampuchia bắt được giao cho bộ đội Việt Cộng giải về Việt Namtống vô tù liền. Bà cụ kể.

- Hồi đó gia đình em không bị bắt vì bộ đội Việt Cộng muốn nhiều người Việt mình sống ở nước Kampuchia trước khi họ phải rút về Việt Nam. Liên chen vào.

Hường kéo tôi trở ra một bàn trong quán, vài khách địa phương ngồi gần nhưng không ai buồn để ý đến ai. Mắt họ dán vào màn hình TV. Tôi ngồi im lặng, thỉnh thoảng ngó ra bên ngoài mong gặp được anh Tấn, thằng Dũng hay người trong ghe. Chợt Liên đến ngồi chung bàn, kể chuyện:

- Người Việt mình ở đây sống rải rác nhiều nơi nhưng ai cũng đều chung cảnh nghèo, đi làm thuê làm mướn cả. Chuyện quay về quê nhà lập nghiệp thật xa vời không ai nghĩ đến, do vậy mới lập hội Việt Kiều để tương trợ lẫn nhau. Chị Hường em nói sáng mai sẽ đưa anh đi gặp hội, xem coi họ có thể giúp gì cho anh được không?

Nói với Liên, tôi may mắn đã gặp được gia đình nàng chứ nếu không còn đang phải lang thang ở đâu đó. Trời về khuya quán sắp đóng cửa, Cao về tới. Cao là em trai út của Hường-Liên, làm thuê cho một tiệm ăn Tàu ở chợ và cũng vừa dọn dẹp ngoài đó xong xuôi. Nằm trong chiếc mùng Cao vừa căng cho tôi sát bên các bàn ghế trong quán, tôi hồi tưởng những chuyện xẩy ra trong ngày và câu Hường nói: " Anh đừng lo, những người bị công an bắt chập tối họ sẽ thả sớm sáng ngày mai ". Thằng Minh ở trong số người bị bắt này. Dầu sao, nó cũng có chỗ ngủ đêm nay. Chỉ lo cho thằng Dũng và anh Tấn giờ đang ở đâu, ra sao? 

Cũng y như tiệm cà phê bên quê nhà, quán của hai chị em Hường-Liên ngày nào cũng mở rất sớm và đóng thật trễ. Mới 6 giờ sáng cả nhà đã lục tục dậy để dọn dẹp chuẩn bị cho một ngày mới. Tôi thức dậy cùng với gia đình và định phụ một tay nhưng hai chị em Hường-Liên bảo tôi cứ ngồi yên uống cà phê. Cao vẫn đang ngủ say. Hường nói ngày nào cũng vậy, Cao bắt đầu đi làm lúc gần trưa cho đến tối khuya mới xong việc. Bà cụ cũng dậy sớm, đang lúi húi làm món cơm chiên cho mọi người ăn sáng lót dạ. Khách lai rai vào uống cà phê, họ là dân lao động phải dậy đi làm sớm đầu ngày nên ghé vào quán uống vội một ly cho tỉnh ngủ cho ấm bụng rồi bỏ đi ngay. Ở xứ nào, dân lao động cũng vất vả như nhau.

Khoảng xế trưa bớt khách, để Liên coi tiệm Hường dẫn tôi đi gặp các người Việt gần chợ Kompong Som. Đầu tiên, tôi và Hường đến nhà người đại diện hội Việt Kiều. Ông ta tên Hai, trạc ngoài 50 tuổi, khuôn mặt hiền lành đầy vẻ nhẫn nại. Sau khi nghe tôi kể vắn tắt lại câu chuyện của mình, ông yên lặng, thở dài rồi cho biết người Việt sinh sống ở Kompong Som rất nghèo vì hầu hết đã mất tiêu tài sản cho canh bạc vượt biên không thành. Lưu lạc xứ người lại không nghề nghiệp trong tay nên ai cũng phải làm thuê vác mướn sống qua ngày. Có người phải dành dùm rất lâu mới có đủ tiền để về lại Việt Nam. Đó là người còn gia đình bên quê nhà. Không thân thích ruột thịt, đành chọn Kompong Som làm quê hương thứ hai. Ông Hai nói đúng y lời Hường và Liên đã kể.

- Chúng tôi làm thuê bất cứ nghề gì mà người Khmer cần cậu à. Phu khuân vác, thợ hồ, thợ nề... Thậm chí làm cả người ở giúp việc trong nhà nữa. Nói ra cho cậu thấy hoàn cảnh chúng tôi. Sống ở xứ người nhưng có khấm khá gì đâu. Mong ngày đủ hai bữa cơm là tốt. Gặp cậu, thêm đồng hương tôi rất vui nhưng nói thật, muốn giúp cậu cũng chẳng biết phải giúp sao đây vì ai cũng nghèo túng cả. Cậu cứ tiếp xúc các người Việt khác đi rồi sẽ thấy. Gửi cậu 200 Riel mong cậu hiểu cho tình cảnh tôi.

Nhờ có Hường hướng dẫn, tôi mới gặp được nhiều gia đình người Việt Nam. Gặp nhiều Việt kiều nhưng đúng như lời ông Hai, người Việt sinh sống tại Khmer quá sức nghèo. Có gia đình, cuộc sống của họ còn khổ hơn lúc còn ở Việt Nam. Tôi cảm thấy áy náy khi phải gõ cửa lòng nhân ái của họ, những người Việt tha hương bất hạnh. Từng là nạn nhân của các vụ lừa đảo vượt biên nên số Việt kiều tôi gặp dễ dàng thông cảm nhưng chính vì vậy lại đặt họ vào hoàn cảnh khó xử. Thật lòng họ muốn giúp nhưng túi không tiền. Mở miệng từ chối lại không nỡ. Có người thú thật trong nhà không còn một đồng bạc và đang chờ người thân đi làm về mới có cái mua đồ ăn. Có gia đình chỉ biết an ủi, giữ tôi và Hường ở lại ăn bữa cơm trưa. Thức ăn chỉ món mắm cùng canh chua bắp chuối hột nấu với ít cá lòng tong. Có nhà khi thấy tôi và Hường đến, họ liền đóng sập cửa không tiếp. Tới chiều tối, tôi và Hường mệt mỏi quay trở về quán. Toàn bộ tiền tôi xin được trong ngày hôm nay chỉ vỏn vẹn 1600 Riel. Hường cho biết từ Kompong Som về Nông Pênh bằng xe khách hạng bét là xe chở hàng Kamaz cũng phải mất 5000 Riel tương đương với 5 phân vàng y 24. Lạ một điều đi gặp Việt kiều suốt cả ngày, không nghe ai nói với tôi về những người khác trong chuyến ghe. Không lẽ chỉ có một mình tôi đi gặp họ? Tôi phân vân. Anh Tấn và thằng Dũng đã đi đâu sau lúc chia tay vội vã ở bến xe? Tôi lại nghĩ lúc còn ở trên ghe, anh Tấn, Dũng và các người khác đã nuốt kịp vàng vào bụng và nhờ vậy họ đã có cái để bán? Có tiền trong tay, thuê nhà trọ nghỉ chân và họ đã đón xe về Nông Pênh hết cả rồi. Có thể lắm! Mong họ được như điều tôi nghĩ.

Bữa cơm tối, bà cụ kể thêm cho tôi nghe những cơ cực của những ngày đầu phải lưu lạc tại vùng Kompong Som sau chuyến vượt biên không thành. Từng lâm cảnh khổ vì bị gạt vượt biên nên gia đình Hường-Liên đã cố sức giúp tôi có tiền để về lại quê nhà.

- Em chưa biết nếu ghe anh đi lọt sang được đất Thái sẽ ra sao chứ bằng đường bộ thì ai cũng phải vào mấy cái trại sát biên giới như Dongrek, Nong Chan hay Nong Samet... gì gì đó. Tuy mang tiếng trại tị nạn nhưng bọn lính Khmer và lính Thái ở đó coi mạng người vượt biên Việt không bằng một con gà. Đàn ông con trai người Việt mình, chúng muốn hành hạ hay giết thì tùy hứng. Đàn bà con gái thì thôi khỏi nói. Trước sau gì cũng bị... tay chúng hết. Gia đình em đi không lọt chứ lọt mà phải sống trong các trại tị nạn đó thì không biết số phận sẽ như thế nào. Người Việt mình sao thời bây giờ khổ quá anh, ở bên quê nhà đã khổ, sang đây cũng khổ. Hường buồn bã, chép miệng.

Liên thuật cho tôi nghe mấy tay công an Khmer đến quán uống cà phê lúc quá trưa cho biết họ đã thả bốn người Duôn bị bắt tối hôm trước. Thằng Minh vậy đã được tự do. Nó ra sao bây giờ? Biết hoàn cảnh tôi, bà cụ bảo nếu không muốn về Việt Nam ngay thì cứ ở lại đây rồi theo Cao ra ngoài chợ xin việc làm trong các tiệm ăn! Có nhiều tiệm ở chợ nếu họ nhận cho làm, chịu khó tằn tiện rồi tôi cũng góp đủ tiền. Hường, Liên phụ họa: " Anh ráng ở đây một thời gian ngắn làm việc, đừng ngại chỗ ăn chỗ ở ". Nghe vậy, tôi nghĩ mình không còn chọn lựa nào khác, tạm thời phải ở lại, đi kiếm việc làm. Ở trọ nơi quán cà phê được hai ngày, theo Cao đi hỏi các tiệm ăn trong chợ nhưng không ai cần thêm người làm, tôi đành quay về không. Tối nằm ngủ, tôi nghĩ phải tìm cách để về Nông Pênh. Gia đình Hường-Liên tuy tốt bụng nhưng tiệm cà phê khách chỉ có lai rai, ở nán lại trong nhà họ ngày nào coi như thêm gánh nặng ngày đó. Đường đi nước bước ở nơi miệng mình, chỉ kẹt tôi không biết tiếng Khmer. Tôi phân vân nhưng quyết định dứt khoát phải về. Trong lúc ăn cơm, nói điều mình định cho cả nhà biết, Hường và Liên liền giúp mỗi người 500 Riel nữa tổng cộng tôi có 2600 Riel. Tôi nhủ thầm, mình cứ liều thử đón xe xem sao. Có đi mới biết.


                                      (còn tiếp)
Read more
Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014
no image



                                   
  (tiếp theo}

Nhìn anh Tấn, mái tóc có nhiều sợi bạc trên khuôn mặt dãi dầu sương gió từng trải, tôi hỏi:

- Rồi sau đó thì sao nữa hả anh? Có bị tập trung tù cải tạo không? Khi đó anh cấp bậc gì?

- Trả nợ tụi nó hơn bốn năm chứ ít gì. Tôi khi đó mới thiếu uý thôi mà còn bị vậy. Sau khi được thả, quay về địa phương bị đám công an nó trù dữ quá nên vượt biên nhiều lần mà không lọt. Giờ, ghe thoát ra khỏi nước thì tưởng đã êm nào ngờ. Số phận mình đen quá hả Vũ?

Tôi nhìn lại anh Tấn nhủ thầm: " Số anh đen, tôi cũng đâu có đỏ gì cho cam. Anh Tấn ơi! Số phần tất cả người dân miền Nam VNCH bại trận đều đen như mõm chó kể từ sau cái ngày định mệnh 30 tháng 4 năm đó " rồi tôi ngồi im, chung nỗi buồn với anh.

Chúng tôi quay trở lại chỗ nằm khi thấy có ánh đèn pha của một chiếc xe chạy gần. Tiếng xe chạy đến chỗ căn nhà chúng tôi thì chậm hẳn rồi sau đó nó bỏ chạy luôn. Có lẽ là chiếc xe tuần tiễu ban đêm. Về khuya, vài người ra ngoài nhà muốn đi tiểu nhưng tìm không thấy chỗ vệ sinh ở chung quanh. Đi đâu giải quyết chuyện cần kíp đây? Chúng tôi nhìn nhau ráng nín vậy. Trời sáng dần để thấy bên kia đường có một khu rừng nhỏ dầy đặc những cây bạch đàn. Thôi thì đành phải vào đó cho xong việc. Căn nhà cũng không có nước để rửa mặt mũi nữa. Tôi đi vòng ra bên ngoài nhà quan sát. Khu vực lính Khmer để chúng tôi trú ngụ đầy vẻ hoang phế xưa cũ với các dãy nhà trông in hệt căn cứ hải quân gần bến Bạch Đằng-Sài Gòn. Như vậy, chắc chắn nó được người Pháp xây từ rất lâu trước đây. Những con đường tráng nhựa năm xưa nay đã loang lổ những ổ gà lớn nhỏ trên mặt đường. Hai bên đường giờ mới trông rõ những gốc cây cổ thụ còn sót lại chung với những hàng cây xoài còn non tuổi.

Nơi ở mới còn tệ hơn ngoài đảo Cô Tan vì cho đến quá trưa mà chúng tôi chẳng thấy bóng dáng một người Khmer nào cả. May chúng tôi có mang theo ít bánh ngọt bisquit và nước lã đóng chai khi rời đảo nên tạm giải quyết được cái khát cái đói. Mãi đến gần chiều mới có một chiếc xe quân đội như loại xe Dodge 4 chạy đến, chở một thùng nước nóng khoảng 30 lít và một sọt nhỏ các ổ bánh mì cùng ít nải chuối chín cho chúng tôi. Theo tay chỉ của hai gã lính Khmer trên xe, chúng tôi khệ nệ khiêng các thứ đó vào nhà. Xong việc, chiếc xe chạy mất hút để mặc chúng tôi tự lo liệu với nhau. Nhìn vào sọt, bánh mì đã cũ cứng ngắc, mỗi ổ dài khoảng hai gang tay. Cả thẩy là 37 ổ. Chia mỗi người một bánh mì và phần còn lại chúng tôi chia nhỏ đều cho từng người. Chuối cũng vậy nhưng may mắn đủ hai trái cho mỗi mạng. Nước, vì không có ly cốc, ai khát cứ kê miệng vào cạnh nồi mà uống.

Từ đó cho đến tối khuya cũng chẳng thấy chiếc xe quay lại. Thêm một đêm dài qua đi. Ngày hôm sau, chúng tôi cũng phải chờ cho đến chiều mới gặp lại chiếc xe cùng hai người lính Khmer đó. Lần này, cũng một thùng thiếc đựng nước nóng tương tự nhưng cái sọt lót bằng lá chuối khiêng vào nhà thì không phải bánh mì và chuối như mọi người đã nghĩ. Đầy gần miệng sọt là các củ khoai mì khoai lang luộc chín cùng ít cá khô nướng chín. " Ăn uống kiểu gì kỳ lạ vậy ta! ". Một người trong chúng tôi hỏi và có tiếng đáp: " Cơm cho tù mà ".

Một gã lính Khmer theo chân chúng tôi vào căn nhà. Y giơ tay ra hiệu cho mọi người đứng tập trung lại gần với nhau. Lấy ra một xấp giấy từ túi vải đeo bên hông, y phân phát cho chúng tôi mỗi người một tờ. Đưa thêm cho hai cây viết mực nguyên tử, gã lính miệng nói tiếng Khmer, tay ra dấu ghi lên tờ giấy mới phát. Thấy vài người trong nhóm gật đầu tỏ ý hiểu lời nói, gã lính vội vã bỏ đi. Tai nghe tiếng xe chạy mà mắt nhìn xuống tờ giấy, tôi giật mình khi thấy hai chữ in Bản Khai to tướng ngay chính giữa cùng với những hàng nhỏ: Tên, Năm Sinh, Địa chỉ... theo thứ tự ở dưới. Bản Khai! Nơi đây đã từng giữ người Việt vượt biên bị bắt và có sự cộng tác với chính quyền CS Việt Nam.

- Họ sẽ giải giao mình cho bọn công an. Chết cả đám rồi Vũ ơi! Anh Tấn nhìn tôi ngao ngán.

Cầm tờ giấy Bản Khai trong tay, ai trong chúng tôi cũng thắc mắc ở mục ghi Quá Trình Vượt Biên rồi hỏi nhau mình phải khai như thế nào đây? Anh Tấn nói lớn cho tất cả cùng nghe với bản khai chữ Việt như vậy và nhìn các tấm giấy treo trên tường thì chắc chắn cả bọn mình sẽ gặp cán bộ Việt Cộng. Chỉ chưa biết là khi nào thôi.

- Nhớ đây không phải như hồi ở ngoài đảo Cô Tan đâu nha. Ngoài đó cán bộ Khmer ghi biên bản bằng chữ của họ. Lần này, họ đưa giấy bảo mình tự khai thì ai viết ra lời khai thế nào thì ráng mà nhớ cho kỹ để rủi công an Việt Cộng khi bắt khai lại mới ăn khớp và càng ngắn gọn ít chi tiết thì càng tốt. Anh Tấn nói thêm.

Quả là sự từng trải của người đã ở tù Việt Cộng trong nhiều năm trời. Hai cây viết mực nguyên tử lần lượt được chuyền tay. Không có bàn, chúng tôi phải dùng mặt xi măng láng ở nền nhà để đặt giấy viết. Đến lượt anh Tấn viết xong bản khai, dường như linh cảm một chia tay sắp đến với tôi và Dũng. Anh Tấn xé vỏ gói thuốc lá Apshara, viết địa chỉ của anh rồi đưa cho tôi và Dũng mỗi người một mẩu nhỏ rồi nói: " Đây là địa chỉ của anh, có dịp rảnh thì ghé xuống nhà anh chơi. Anh rất mến hai tụi em ". Tôi và Dũng cũng trao cho anh địa chỉ của hai đứa.

Như ngày hôm qua, đến chiều các gã lính Khmer mới xuất hiện. Dừng xe tắt hẳn máy, họ vẫy chúng tôi đến gần để khiêng hai thùng giấy khá lớn vào nhà. Đặt các thùng giấy nầy ngay trên mặt sàn xi măng, chúng tôi vội mở ra xem. Một thùng đầy nhóc những gói giấy còn thùng kia là các bịch nước mía đá lạnh cùng ống hút nhựa kèm theo. Hai gã lính Khmer đi theo chúng tôi lấy các gói, bịch nước mía ra đưa cho từng người một. Xong họ bỏ đi ra ngoài căn nhà đứng hút thuốc lá và trò chuyện với nhau. Tôi mở gói giấy ra xem. Cơm trắng trộn lẫn với trứng gà chiên-thịt kho-cà chua kiểu như loại cơm chiên Dương Châu trong món ăn Tàu. Chẳng có muỗng nĩa gì cả. Cứ vậy mà bốc ăn bằng tay thôi. Có tiếng người khen:

- Nay cho mình ăn ngon quá vậy ta... Cả nước mía đá lạnh giải khát nữa chứ!

Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười. Ăn vừa xong bữa, có tiếng xe mô tô hai bánh ngừng ngay phía trước cửa. Hai người đàn ông phục sức rất gọn gàng, tay cầm cặp bước đến nói chuyện xì xào nho nhỏ với hai gã Khmer vài câu rồi cả bốn người họ bước vào hẳn bên trong căn nhà. Nhìn hai người mới đến, chúng tôi biết họ là người Việt Nam và quả đúng như vậy. Người mới đến nói giọng miền Bắc:

- Chúng tôi Vũ Văn Dũng và Huỳnh Thới Kỳ thuộc tổng lãnh sự quán Việt Namtại đây.

Mọi người trong phòng im lặng nhìn hai gã cán bộ Việt Cộng. Đảo mắt khắp lượt chúng tôi, Vũ Văn Dũng hỏi:

- Tại sao các anh lại vượt biên? Hử! Tại sao các anh bỏ nước ra đi? Nói tôi nghe.

Không ai trong chúng tôi lên tiếng trả lời. Vũ Văn Dũng xổ luôn một hơi:

- Nước nhà độc lập thống nhất từ lâu mà vẫn không chịu yên tâm lao động sản xuất. Hở ra là vượt biển vượt biên, gây xáo trộn cho xã hội. Bộ các anh nghĩ cứ sang được bên Mỹ thì bọn Mỹ sẽ coi các anh là ông nội lũ nó chắc. Ở đâu thì ai cũng phải làm mới có cái ăn nghe chưa. Chúng tôi thật xấu hổ khi gặp các anh trong tình cảnh như vầy. Hôm nay, chúng tôi đến để bảo lãnh các anh ra từ tay các đồng chí hải quân nước bạn. Nếu chúng tôi từ chối bảo lãnh, họ sẽ giam các anh cho đến chết. Các anh nghe chưa? Cũng vì tình thương đồng bào Việt Namcả thôi... Các anh đâu biết.

Nói xong, Vũ Văn Dũng mở miệng cười. Nghe giọng nói, tôi biết y gốc gác người Hà Nội.

Chúng tôi nhìn nhau trong chốc lát. Gã cán bộ Việt Cộng còn lại cất giọng miền Nam:

- Nước nhà còn nhiều khó khăn thì các anh phải thông cảm chứ. Đảng và chính phủ nào muốn vậy. Đừng vượt biên nữa nguy hiểm lắm. Các anh dùng bữa cả rồi phải không? Bản khai ngày hôm qua mọi người đã viết xong hết cả thì đưa đây ngay cho tui.

Chúng tôi lục tục gom các tờ giấy đưa lại cho hai gã cán bộ Việt Cộng. Gã người Bắc sắp xếp gọn các tờ giấy rồi y cầm đọc lướt vài tờ xong ngẩng đầu lên nhìn đám chúng tôi, nói:

- Lãnh sự quán sẽ theo từng địa chỉ ghi trong đây để gửi về địa phương thông báo sự vụ các anh. Nhưng chúng tôi biết các anh chỉ ghi láo ghi lếu cả thôi. Rồi y đọc tên một người cùng địa chỉ người đó trong tờ giấy và tiếp: " Đây nhá, thử đến ngay địa phương... rồi hỏi chính quyền xem biết liền. Có người tên như vầy thì cứ đem đầu tôi ra mà chặt. Xong, y cười hì hì, lộ vẻ khoái trá. " Làm cho có thủ tục vậy thôi. Bây giờ các anh được trả tự do cả đấy ".

Tôi và anh Tấn khẽ nhìn nhau. Đúng y boong lời hắn nói. Không ai trong chúng tôi viết đúng tên cùng địa chỉ trong tờ giấy Bản Khai. Rõ ra kinh nghiệm của một cán bộ ngoại giao Việt Cộng đã từng tiếp xúc nhiều phen với người vượt biên trên đất Khmer. Một người trong chúng tôi giơ tay, hỏi vội:

- Cán bộ nói chúng tôi được trả tự do, tôi rất mừng nhưng làm sao về được tới Việt Nam? Không ai còn đồng tiền trong người, hải tặc lột sạch hết cả.

Vũ Văn Dũng nhìn người vừa hỏi sau đó đảo mắt qua cả đám chúng tôi, y gằn từng tiếng:

- Chúng tôi không cần biết chuyện đó. Các anh sang đây được thì các anh phải về Việt Nam được. Bảo lãnh cho các anh ra khỏi đây, đã thể hiện tình cảm với các anh lắm rồi.

Nghe gã cán bộ trả lời như vậy, tôi liền nói:

- Cán bộ ơi, nghe giọng cán bộ tôi biết người gốc Hà Nội. Tôi cũng người gốc Hà Nội đây. Cán bộ nói tình thương đồng bào thì xin thương cho trót. Cố giúp chúng tôi có phương tiện để về tới Nông Pênh cũng được. Đến đó rồi chúng tôi sẽ liệu tiếp.

Nhìn tôi, Vũ Văn Dũng lắc đầu, nói chậm rãi dứt khoát:

- Lãnh sự quán không có tiền. Biết hoàn cảnh các anh chứ nhưng thực sự chúng tôi cũng không có tiền... Anh hiểu chưa!

Tay Việt Cộng miền Nam nghe hai bên đối đáp như vậy liền xen vào, giọng y nhỏ nhẹ:

- Mong các anh thông cảm. Ngân khoản của lãnh sự quán hạn hẹp lắm. Bây giờ ít có vụ vượt biên chứ trước đây hầu như vài ngày tụi tui cứ phải đi lãnh người Việt ra hoài. Thôi! Các anh ráng xoay trở làm sao đó thì làm nghe.

Tôi, anh Tấn và thằng Dũng nhìn nhau rồi kín đáo lắc đầu, thầm nghĩ cán bộ Việt Cộng nói như vậy thì hết cách. Vừa lúc, một xe tải nhà binh chạy đến và ngừng ngay ở ngoài sân phía trước căn nhà. Một lính Khmer bước xuống và ra dấu cho cả bọn chúng tôi trèo lên thùng xe. Hai cán bộ Việt Cộng vẫn đứng yên trên thềm nhà chuyện trò với lính Khmer của chiếc xe đến trước. Khi chúng tôi trèo lên thùng xe xong xuôi, xe tải nhà binh từ từ lăn bánh chạy vòng vèo trong khu vực. Đúng đây là một trại hải quân vì huy hiệu quân đội Khmer với cái mỏ neo ở chính giữa được treo trên cửa ra vào của một tòa nhà khá lớn. Nhà cửa nơi đây cùng một kiểu Pháp giống y khu hải quân tại cảng Bạch Đằng-Sài Gòn. Ba người Khmer đang đi dọc theo con đường và một trong số họ vẫy tay thân ái với chúng tôi. Đây đó, vài trẻ em Khmer chạy chơi, đùa giỡn gần các căn nhà. Khói lam từ một nhà bếp mang mùi thơm của thức ăn theo gió chiều đến tận xe chúng tôi. Hai phụ nữ, người quấn xà rông đang ngồi bên nhau trên ghế trước cửa một căn nhà dõi mắt nhìn chiếc xe chở chúng tôi chạy ngang qua. Trời bắt đầu xâm xẩm tối rồi. Gã lãnh sự Vũ Văn Dũng nói chúng tôi được trả tự do nhưng không biết xe sẽ chở cả nhóm đi đâu đây? Qua hết các dẫy nhà, xe bắt đầu ra khỏi cổng căn cứ hải quân và chạy vào vùng ngoại ô. Những ruộng lúa cùng các căn nhà sàn vách gỗ mái ngói đỏ nằm rải rác cạnh vệ đường. Nước Khmer sau hoạ diệt chủng của chế độ PolPot chỉ còn ít dân nên đất đai bỏ hoang rất nhiều. Xe vào thành phố, chạy vòng vèo trong các khu thị tứ hoặc trên các con đường với hai hàng cây tương tự như các con phố ở Sài Gòn. Các cửa tiệm đã mở đèn sáng chưng. Sau cùng, xe ngừng tại một bến xe nằm đối diện với một khu chợ khá sầm uất. Hai lính Khmer từ cabin bước xuống và ra dấu cho chúng tôi phải rời khỏi xe họ ngay. Lần lượt kẻ trước người sau nhẩy ngay xuống đất và tức khắc, xe tải nhà binh đánh một đường vòng rồi quay đầu bỏ chạy thẳng.


                                      (còn tiếp)
Read more
Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014
no image




                                       (tiếp theo)

Hôm nay là ngày tàu nhổ neo chạy về Kompong Som. Nhà bếp tổ chức ăn chung cho toàn đảo ngay tại căn nhà Truyền Thống như một bữa tiệc nhỏ. Sau bữa cơm, chúng tôi và lính Khmer đã thân ái ôm chào tạm biệt nhau trong những giọt nước mắt. Ông lớn mắt rướm lệ trên khoé, thân ái cầm tay cháu Sang đi theo ra tận cầu tàu. Phút biệt ly đến làm ai cũng một tâm trạng buồn bã. Chỉ một thời gian sống chung với nhau ngắn ngủi mà tình cảm chúng tôi tự nhiên gắn bó với lính Khmer như người thân thích ruột thịt. Chia tay với ông lớn với Sok Sammath, người đầu bếp cùng các người lính Khmer trên đảo, chúng tôi bồi hồi bước lên con tàu. Tàu đột ngột kéo một hồi còi thật dài trước khi rời đảo. Từ trên boong, tôi quay đầu nhìn về phía cầu tàu nơi những người lính Khmer vẫn đang đứng yên tại chỗ. Tạm biệt các ân nhân... tạm biệt Cô Tan. Một hòn đảo với đầy kỷ niệm đẹp trong lòng tôi.

Giờ đây, chúng tôi đứng ngồi hoặc nằm la liệt đây đó trên boong tàu rộng rãi. Tàu tuy lớn nhưng chỉ võ trang bằng hai cây súng đại liên 12 ly 7 ở trước mũi và phía sau lái. Dưới hầm và mặt boong tàu đầy nhóc những sọt cần xé dừa khô quà của đảo tặng cho các chiến sĩ trên tàu. Tàu chạy chậm rãi, êm ả khá lâu trên biển. Đó đây, vài cánh chim hải âu lướt vội qua đầu chúng tôi. Chập choạng tối, tàu tiến đến gần Kompong Som, hải cảng biển nước sâu duy nhất của quốc gia Khmer. Có một thời kỳ, Kompong Som mang tên Sihanoukville là tên vị quốc vương Norodom Sihanouk. Tôi biết Kompong Som có các bãi biển rất đẹp thu hút khách du nước ngoài nằm dọc theo cảng. Vì trời đã xẩm tối nên dù hết sức để ý, tôi chẳng thấy các bãi biển du lịch đâu cả. Sau cùng tàu vào hẳn trong cảng. Ánh sáng rực rỡ từ các con tàu bỏ neo nằm ở bến, từ các nhà kho và bãi trên bờ hắt mầu vàng lung linh trên mặt nước biển. Cảng Kompong Som xem ra phồn thịnh hơn so với cảng Bạch Đằng tại Sài gòn.

Tàu cập bến, chúng tôi được lệnh trèo lên một chiếc xe tải nhà binh phủ bạt che kín nằm pha đèn ở trên bờ. Xe chở chúng tôi chạy thẳng vào một doanh trại của hải quân Khmer nằm không xa hải cảng. Xe ngừng tại một dãy nhà lớn, những người Khmer trên xe bàn giao chúng tôi cho vài cán bộ Khmer đứng chờ sẵn. Rồi, các cán bộ Khmer ra dấu cho chúng tôi đi vào một căn nhà to rộng nằm trong dãy nhà. Dưới ánh vàng vọt của bóng đèn tròn duy nhất gắn trên trần, nơi chúng tôi ở tối nay chỉ là nền nhà xi măng mà không có bất kỳ vật dụng nào khác. Cán bộ Khmer lại không biết tiếng Việt, chỉ lấy tay ra dấu. Trên tường có dán các tấm giấy ghi những câu tiếng Việt như: Không được đi ra khỏi khu vực. Luôn giữ trật tự trong sinh hoạt. Khai báo trung thực sự việc cho cán bộ. Những tấm giấy làm cho chúng tôi hoang mang, lo lắng. Mọi người tản ra, tự kiếm chỗ nghỉ ngơi trong căn nhà đêm nay. Căn nhà tương tự một phòng giam rộng lớn chỉ khác ở chỗ không có các song sắt và cửa khóa chặt cùng với công an canh gác bên ngoài. Có lẽ trước đây là một nhà kho hay một cơ xưởng gì đó của hải quân Khmer. Dũng ngồi gần bên tôi, nói nhỏ:

- Tệ hơn lúc ngoài đảo Cô Tan. Coi bộ không khá mầy Vũ.

Ai trong chúng tôi cũng chung một nhận xét như thằng Dũng. Lạ chỗ và lo lắng cho ngày sắp tới khiến tôi không sao chợp mắt, yên giấc.

Nằm trằn trọc mãi vẫn không ngủ được, tôi và anh Tấn kéo nhau ra phía bên ngoài hành lang căn nhà ngồi nói chuyện cho qua đêm. Ánh sáng từ các nơi trong khu vực phản chiếu cho thấy căn nhà nơi chúng tôi ở biệt lập hẳn với các dãy nhà khác nằm khá xa chung quanh. Con đường phía trước căn nhà được trồng lẫn lộn những cây cao, thấp với khoảng cách đều nhau. Không biết loại cây gì nhưng nhìn chúng, làm tôi thấy lại hình ảnh đường phố Sài Gòn. Chỗ chúng tôi ở im vắng quá, lỡ có xẩy ra chuyện gì thì cũng chẳng ai biết cho và cũng không biết cầu cứu với ai nữa. Anh Tấn móc thuốc lá ra hút rồi kể chuyện về bản thân:

- Tôi người tỉnh Cần Thơ quận Thốt Nốt, đi lính sư đoàn 25 bộ binh VNCH mình đó Vũ. Tôi đồn trú trong căn cứ Đồng Dù ở vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa. Vũ biết Đồng Dù nguyên là căn cứ của một sư đoàn Mỹ bàn giao lại khi họ rút về nước. Thực ra căn cứ có tên Hoàng Diệu, còn Đồng Dù là bọn Việt Cộng gọi vậy. Ngày 29 tháng 4 năm 1975 đơn vị tôi theo chân sư đoàn rút bỏ Đồng Dù chạy về Sài Gòn sau khi Việt Cộng tràn ngập căn cứ. Cả đơn vị bỏ chạy nhưng khi vừa tới cầu Bông gần Hóc Môn-Thành Ông Năm thì kẹt lại. Đường phía trước mặt đã bị đặc công Việt Cộng chiếm mất, phía đằng sau thì đại binh của chúng đang truy đuổi sát nút. Bọn chúng tôi đành phải dạt vào một cánh đồng lúa rộng lớn khá xa đường lộ. Dàn trận tại đây trong các hố cá nhân đào vội dưới gốc cây của rặng trâm bầu sát cạnh các thửa ruộng hoặc nấp sau các thân xe tăng M 113, xe GMC... Chúng tôi thấy từng đoàn quân xa Molotova, xe tăng T 54, PT 76... của Việt Cộng chạy khơi khơi trên mặt lộ không xa lắm. Đường về Sài gòn bị địch cắt đứt, chúng tôi kẹt ở giữa cánh đồng lúa. Cố sức liên lạc truyền tin với cấp chỉ huy cũng không được. Dường như không có người trực máy vì chúng tôi gọi tới gọi lui nhiều lần mà không có ai trả lời. Sau mới biết đám trực máy đã bỏ chạy di tản hết cả. Khi đó, chúng tôi hoang mang lắm, không biết sẽ phải làm gì? Đoàn xe Việt Cộng chạy nối đuôi nhau trên đường lộ cũng trông thấy chúng tôi chứ Vũ nhưng chúng bỏ mặc, không đánh mà chỉ tiếp tục hành quân về Sài gòn thôi. Trận đánh lần đó rất lạ Vũ à! Làm như mục tiêu tiến chiếm của Việt Cộng là Sài gòn và chúng phải vào đó càng nhanh càng tốt. Hễ nơi nào mà phe bên mình chống lại thì chúng mới đánh, còn không thì chúng phớt lờ coi như không thấy.

Rít thêm một hơi thuốc Apshara, anh Tấn kể tiếp trong làn khói trắng phà ra từ hai lỗ mũi.

-        Khoảng 4 giờ chiều hôm đó khi đang ngồi dưới hố cá nhân, tai tôi nghe tiếng trực thăng bay rất gần rồi gần hơn. Tôi vội nhổm dậy nhìn và thấy rõ ràng một UH đang bay thật thấp hướng về phía chúng tôi. Những người lính khác trong đơn vị cũng thấy chiếc trực thăng và đều nghĩ nó đến để yểm trợ đây. Có yểm trợ của trực thăng, tinh thần tụi tôi phấn chấn hẳn. Tôi nhìn lại vũ khí của mình rồi dõi mắt theo chiếc máy bay, miệng nhủ thầm chuẩn bị tinh thần để tác chiến. Chiếc trực thăng bay gần tới thì bị trúng đạn của bọn Việt Cộng từ hướng nào không rõ bắn lên. Một vệt khói đen từ máy bay tỏa ra và tiếng động cơ của nó đã khác. Máy bay lảo đảo thật thấp về phía đội hình chúng tôi và nó rớt sau một rặng cây không xa lắm. Tiếng máy bay im bặt trả lại sự im ắng của khu vực trong sự thương tiếc của tôi cùng những người lính có mặt. Vũ biết trong những lần tác chiến, mỗi khi trông thấy máy bay của phe mình từ phản lực cho đến trực thăng bị rớt vì hỏa lực của Việt Cộng thì trong lòng mình đau xót lắm chứ. Nó tương tự như mình vừa làm mất một món tài sản thật quý giá. Tôi cùng vài người lính khác vội chạy đến chỗ máy bay rớt xem sao. Băng qua các thửa ruộng và những rặng trâm bầu những bụi dứa dại cùng các lùm bình bát, chúng tôi đến gần chỗ xác máy bay. Nó vạch một đường khá dài trên mặt ruộng lúa và chúc đầu vào một doi đất tiếp nối với bờ đê của con rạch nhỏ. Tôi và các người lính bước bì bõm dưới ruộng lúa đến bên chiếc máy bay. Qua khung cửa mở của buồng lái, tôi thấy duy nhất viên phi công vẫn ngồi yên lặng trên ghế. Tôi cất tiếng gọi nhưng ông ta không trả lời. Nghĩ phi công đã bị thương nên tôi cùng với một người lính khác nhẩy ngay lên sàn tàu để tìm cách giúp đem ông ra khỏi máy bay nhưng đã muộn. Ông ta đã chết. Chút máu ộc từ miệng chảy ra thành vệt nhỏ trên mép. Tôi nhìn kỹ mặt, thân thể viên phi công và không thấy vết thương nào khác dù ông đã chết thật. Người ông lả ra, bất động. Khói từ phần đuôi máy bay vẫn còn nghi ngút tỏa lan theo chiều gió. Một người lính nói vội.

- Coi chừng máy bay có thể nổ. Mình lôi cha nội phi công ra ngoài đi.

Chúng tôi phụ tay cởi bỏ dây đai an toàn và chuyển xác phi công ra khỏi máy bay. Ì ạch khiêng ông lên bờ ruộng rồi đặt nằm ngay ngắn trên một bờ đất phẳng ở gần một con rạch. Tôi quay nhìn lại chiếc máy bay, hai cây đại liên 60 ly vẫn nằm yên gục đầu ở hai phía bên cửa trống với những dây đạn vàng choé. Cánh quạt lớn trên nóc máy bay vẫn đảo nhè nhẹ theo cơn gió đồng...

- Anh có coi phía sau lưng người phi công không? Có thể ông ta bị trúng đạn hay miểng gì đó xuyên vào tim thì sao? Tôi cắt lời anh Tấn, hỏi.

Nhìn tôi, anh Tấn khẽ lắc đầu rồi kể tiếp:

- Không. Vũ à! Như tôi vừa kể, không có vết thương gì trên người ông ta hết. Ổng chết vì bị một chấn động quá mạnh mà những anh em khác trong đơn vị tôi lúc đó nói hiệu ứng G forces. Những máy bay khi rớt, người trên đó hay bị như vậy. Hình như chấn động lúc máy bay tiếp đất đã làm hệ thần kinh trong xương sống bị giãn ra rồi co lại đột ngột nên làm ông ta chết. Họ nói vậy... tôi cũng không rõ lắm.

- Không có xạ thủ trên máy bay vậy trực thăng đến đó làm gì để cho bị bắn rớt? Tôi lại hỏi tiếp.

- Tôi nghĩ có lẽ chiếc trực thăng bay đến để bốc ông tướng tư lệnh sư đoàn hoặc định bay về để đón thân nhân nào đó sống trong vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa hay Trảng Bàng... nhưng đã hỏng nhiệm vụ. Có điều lạ, ông phi công không mặc đồ bay như vẫn thường thấy mà là bộ đồ sơ-vin dân sự áo trắng quần xanh. Cũng chẳng có Colt 45 hay Ru lô trái khế gì trên người ông phi công nữa Vũ. Đặt xác phi công nằm yên trên mặt đất xong, tôi và mấy người lính quay trở về chỗ cũ của mình. Chiếc trực thăng nằm im lìm một đống lù lù trên mặt ruộng lúa, vẫn còn tỏa các vệt khói và chưa bị nổ tan như tụi tui nghĩ. Về lại chỗ đóng quân, cả ngàn người lính chúng tôi, súng ống còn đủ với hàng chục xe tăng M 113, súng cối, súng DKZ... bên cạnh mà phải án binh bất động suốt cả đêm trên cánh đồng lúa. Đêm dài qua chầm chậm, tai chúng tôi vẫn nghe tiếng súng tiếng nổ lớn từ hướng Sài Gòn vọng lại. Bình minh đến rồi gần trưa thì đơn vị tan đội hình khi nghe tin Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng trên làn sóng phát thanh. Sau khi bàn bạc, các sĩ quan chỉ huy đã lệnh cho một binh sĩ trong chúng tôi phất cờ trắng ra hàng bọn Việt Cộng đang chờ sẵn ngay ngoài mặt đường lộ chính. Lần lượt chúng tôi bỏ các xe GMC, xe tăng vẫn còn nổ máy để kéo nhau đầu hàng tập thể. Súng ống, quân dụng vất thành đống bên bờ ruộng. Đủ cả... từ Colt 45, súng trường M16, súng phóng lựu M79, M72, mũ sắt cá nhân, máy truyền tin PRC 25, ba lô và cả giầy trận nữa. Vất, vất tuốt. Có người không chịu đầu hàng lại tự mình tự sát tại chỗ. Thật kiêu hùng và cũng thật bi thương cho những cái chết vào giờ cuối cuộc chiến. Có người khóc ngon lành, nước mắt ràn rụa trên má như trẻ thơ. Lúc đấy, tôi cũng hoang mang và tuyệt vọng lắm. Cả một đạo quân lớn mạnh như vậy mà phút chốc phải giải giáp quy hàng. Tôi cũng định... đoàng một phát cho rồi đời lính Cộng Hòa nhưng nghĩ mình còn mẹ già nên lại thôi.

                                           (còn nữa)
Read more
Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014
no image




                               (tiếp theo)

-        Nơi đây đã từng là căn cứ của bọn Việt Cộng em à. Anh Tấn nói nhỏ.

Tôi chưa kịp nói với anh Tấn thì tiếng một người nào đó vang lên: 

- Ê! Có báo cũ nữa nè mấy cha. Lấy ra mà lót nằm cho nó sạch. 

Thì ra ở dưới các hộc bàn có xếp đầy những tờ nhật báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân cũ. Tôi lấy ra vài tờ báo xem thử. Báo cũ thật. Số ra từ ngày 12 tháng 5 năm 1983 lận. Vài người lấy báo đang định trải trên mặt bàn thì ai đó lên tiếng: " Đừng tự ý lấy báo trải lên bàn. Phải hỏi xem họ có cho không đã ". Người khác thì nói: " Báo chữ Việt tụi Khmer này biết cóc gì mà đọc ". Tiếng người khác đáp lại: " Không biết tiếng Việt hả? Thế cha Khmer trên tàu và cha nội vừa rồi nói với mình bằng tiếng gì vậy? Theo tôi, cứ để yên đó rồi hỏi họ trước xem sao, phải không anh Tấn? ". Anh Tấn gật đầu, trả lời:

- Đúng, cứ để yên chỗ. Biết đâu người Khmer để dành báo Việt Namnhư một kỷ niệm hữu nghị gì đó của họ. Đang trong tay họ thì mình đừng làm cái gì khiến cho họ ghét.

Vừa lúc, hai người Khmer bước vào, một người trên tay cầm cây đèn dầu khá lớn còn người kia thì tay ôm quả mít chín bốc mùi thơm nồng nặc. Một trong hai gã Khmer nói: " Tôi cho các anh quả mít chín, bây giờ cần ba người cùng đi theo tôi để lấy thức ăn nghe ".

Dũng, thằng Minh và một thanh niên khác liền đi theo hai gã Khmer. Không lâu sau đó, một nồi lớn mì sợi ăn liền đã nấu sẵn còn nóng, bốc hơi thơm lừng được Dũng và thằng Minh khệ nệ xách về. Cậu thanh niên một tay lỉnh kỉnh tô-muỗng, tay kia xách theo một ấm nước nóng. Chúng tôi chia mì ra cho mỗi người một tô khá đầy cùng ăn xong rồi quây quần ngồi bên nhau ăn mít chín. Đây là loại mít ướt khi chín rất mềm chỉ cần dùng tay lay cuống, tách vỏ ra rồi bốc từng múi ăn. Kể từ hôm xuống ghe vượt biên ở Vàm Rầy đến hôm nay chúng tôi mới được ăn trái cây tươi. Sok Sammath từ bên ngoài đi vào nhìn cả bọn chúng tôi đang ăn uống bên nhau, y khẽ mỉm cười. Gã cán bộ hải quân Khmer này có khuôn mặt đẹp trai và nụ cười rất tươi. Hàm răng y trắng đều làm tôi nhớ lại hình quảng cáo anh Bẩy Chà của hiệu kem đánh răng Hynos thời trước. Sok Sammath cho biết từng người chúng tôi sẽ phải làm việc với ban chỉ huy đảo về sự việc đã xẩy ra trong chuyến đi. Y cũng cho biết tối nào cứ đúng 10 giờ thì máy phát điện sẽ ngừng chạy. Do vậy, mọi người nên thu xếp làm các việc gì cần kíp ngay vì khi điện cúp rồi sẽ phải giới hạn chuyện đi lại. Anh Tấn hỏi về các tờ báo cũ thì Sok Sammath nói chúng tôi cứ việc lấy dùng nếu cần rồi y cho biết thêm khi bộ đội Duôn rút khỏi đảo Cô Tan, trại xếp chúng vào các hộc bàn cho gọn chứ cũng chưa biết để làm gì. Rồi y đi đến chỗ cháu Sang ngồi, hỏi thăm ít câu trước khi rời khỏi căn phòng.

Ngày hôm sau, chúng tôi được phát gạo để tự nấu ăn lấy. Cá tươi từ các tàu đánh cá cung cấp cho đảo hàng ngày rất nhiều đến nỗi có lúc chúng tôi ăn không hết, phải đem vất bỏ. Có hôm được cả tôm thẻ, mực ống nữa. Rau tươi ngoài bắp cải, bí đỏ từ đất liền tiếp tế ra thì còn rau muống rau lang cùng bí, bâu... trồng đầy trên đảo. Những ngày kế, lần lượt chúng tôi được gọi đi làm việc thật. Làm việc là khai báo tất cả các sự việc đã xẩy ra. Đến phiên tôi, Sok Sammath hỏi tôi thật kỹ từng chi tiết từ ghe xuất bến tại đâu ở Việt Namrồi đi bao lâu phải ngừng ở đảo và diễn tiến câu chuyện khi gặp các tàu hải tặc Thái Lan. Y hỏi bằng tiếng Việt, tôi trả lời xong, y ghi biên bản bằng chữ Khmer ngoằn ngoèo như chữ Thái Lan. Vậy mà cũng mất cả mấy tiếng đồng hồ mới xong. Sau khi chấm dứt buổi làm việc, y nói sẽ sắp xếp cho chúng tôi gặp ông lớn người chỉ huy đảo. Anh Tấn, Dũng thì gặp hai người Khmer khác làm việc cũng một cung cách như của Sok Sammath. Ngoài việc nói và nghe tiếng Việt trôi chảy, chúng tôi không biết những người lính Khmer đó có biết đọc biết viết chữ Việt hay không? Có phải họ gốc gác sinh ra từ một làng quê nào ở miền Nam Việt Nam mà người ta thường gọi họ là người Khmer Krom? Những ngày sau nữa, Sok Sammath gọi anh Tấn, tôi và vài người nữa lên gặp ông lớn. Đó là một người Khmer trung niên bụng phệ, có cái đầu hói. Ông lớn có dáng dấp như một thương gia hơn là một cán bộ quân đội. Sok Sammath là người phiên dịch trong buổi gặp. Ông lớn đã lấy ra một xấp hình chụp các con tàu đánh cá Thái Lan cho chúng tôi xem để nhận dạng hai chiếc tàu hải tặc nhưng chúng tôi thấy hầu hết các con tàu trong hình rất giống nhau nên chuyện nhận dạng không thành. Xem kỹ các hình, chúng tôi mới biết tàu đánh cá Thái Lan nào cũng có hàng số bên hông nằm ngay phía gần mũi. Tôi nhớ các tàu hải tặc khi đó đã ranh ma lấy tấm vải che kín số tàu nên chẳng ai thấy được. Manh mối duy nhất là trên tàu hải tặc nhỏ có một người đầu bếp biết tiếng Triều Châu và chỉ vậy thôi. Ông lớn cho biết có khoảng 200 tàu đánh cá Thái Lan trong vùng biển nước Khmer. Nếu chúng tôi biết con số ghi trên thân hai tàu Thái Lan đó thì bằng hệ thống viễn liên, ông sẽ cho gọi các tàu kể trên đến đảo để chúng tôi nhận dạng ngay. Ông cười với chúng tôi, nói:

- Tụi tui cứ nửa tháng một lần cho tàu đi tuần tra các đảo xa. Đều là đảo hoang không có người ở. Các anh biết hôm đó, khi nghe tàu tuần báo cáo trông thấy các đám lửa lớn cầu cứu rồi lại có cả y phục phụ nữ nữa nên tui mới ra lệnh các chiến sĩ vào xem sao và họ đưa các anh về đây. Ngừng một chút ông tiếp: " Vài năm nay có xẩy ra vụ hải tặc nào đâu. Tui rất bực vì nghe chuyện đã xẩy ra trong vùng biển do mình trách nhiệm. Tui sẽ báo cho hải quân Thái Lan về các sự vụ này để mong họ hợp tác, phăng ra được các đầu mối mà giải thoát phụ nữ Duôn các anh ".

Ông lớn cũng nói bập bẹ được chút tiếng Việt và chiếu cố đặc biệt đến cháu Sang. Những ngày sống tại đảo Cô Tan, cháu Sang đã ăn chung bữa ăn với ông lớn. Những người lính Khmer cũng hay cho cháu Sang kẹo bánh hoặc dắt cháu đi chơi đây đó trên đảo. Có lẽ là lính đồn trú xa gia đình xa các người thân nên khi gặp cháu Sang, những lính Khmer ở đây coi cháu như con cái ruột thịt. Tôi nhìn người Khmer với làn da đen tóc quăn mắt trắng dã đầy vẻ man rợ rồi liên tưởng những câu chuyện kể về các vụ tàn sát người Việt mà họ gọi là Cáp Duôn trong các thời kỳ trước đây. Bây giờ, đối chiếu với hành động và thái độ tử tế của những người Khmer ở đây dành cho đám người Việt trong các ngày qua. Rõ là ở nước nào, cũng có người tốt người xấu, kẻ hiền lương thật thà và người cùng hung cực ác.

- Ngay từ lúc đầu trên đảo hoang khi nghe họ nói bằng tiếng Việt thì mình hy vọng sẽ gặp việc lành mà quả thật như vậy. Anh Tấn hỏi thêm tôi và Dũng: " Các cậu biết sao không? Trong lòng có thích nước nào thì mới chịu khó học tiếng nước đó. Tâm lý con người ta là vậy ".

Ở gần một tuần lễ, chúng tôi được phép tự do thong dong đi lại trên đảo trong phạm vi gần doanh trại. Chúng tôi mới biết có hàng trăm cây mít, xoài và dừa được trồng dầy đặc ở trên đảo Cô Tan. Bây giờ thì chưa phải mùa xoài. Còn mít chín lúc nào cũng sẵn. Ai muốn ăn mít thì cứ chịu khó lội trong các hàng cây rồi khi ngửi thấy mùi thơm, lần tới được gốc thể nào cũng hái được quả chín. Có khát nước, muốn uống dừa tươi thì cứ việc trèo lên hái nhưng phải cẩn thận vì cây dừa ở đây thân rất cao. Gần các dãy nhà của ban chỉ huy trại, chúng tôi còn thấy trồng cả cây trà xanh. Từ thói quen uống nước trà tươi của người miền Bắc, tôi nghĩ chắc chắn cán bộ CS Bắc Việt khi đóng quân tại đảo đã trồng chúng. Không biết rõ số lính Khmer đóng ở Cô Tan có bao nhiêu cả thẩy vì quanh quẩn hàng ngày, gặp mặt nhau chỉ khoảng trên dưới 30 người thôi. Nhưng nhìn các dãy nhà cửa trong trại, thấy có nhiều căn nhà bỏ trống và cả trăm cây ăn trái được trồng rồi nhìn bề rộng của các ao rau muống, vườn lang.... Tôi biết khi bộ đội Việt Cộng còn đóng tại đảo, chắc chắn quân số phải rất đông.

Một buổi trưa đang thiu thiu ngủ thì một người lính Khmer đến gọi chúng tôi dậy để ra ngoài cầu tàu gấp. Chúng tôi vội vã theo chân các người lính Khmer ngay. Ra đến cầu tàu, một chiếc tàu hải quân đậu ở đó đang chuyển hàng hóa tiếp liệu cho đảo cùng với các hàng quân sự. Công việc của chúng tôi là vác từng viên đạn đại bác 105 ly được đựng trong các ống giấy cứng tròn nhuộm đen từ tàu hải quân lên nhà kho tuốt trên đỉnh một ngọn đồi. Mỗi người chúng tôi chỉ được phép vác mỗi lần một quả đạn thôi còn các hộp đựng sáu ngòi nổ đầu đạn được lính Khmer vác riêng ra. Hôm đó, cá nhân tôi đã vác cả thẩy 12 viên đạn đại bác 105 ly. Đạn vác lên được cất trong kho một căn nhà hầm. Gần kho chứa đạn, tôi thấy các khẩu đại bác che kín nòng trong các ụ. Lần đi trở xuống đồi, tình cờ mắt tôi thấy khối sắt lớn có hình dáng như chiếc máy bay trực thăng nằm gần một bãi đá. Gặp Sok Sammath trên đường đi, hỏi thì y cho biết đó là xác của một trong các trực thăng Mỹ bị lính PolPot bắn rơi trong một trận chiến giải cứu tù binh tại đây từ khá lâu rồi. Qua lời kể vắn tắt của Sok Sammath, tôi nhớ lại cái tên đảo Cô Tan mà tai đã nghe từ đài BBC, VOA... vào giữa tháng 5 năm 1975 về chuyện một tàu buôn của Hoa Kỳ bị hải quân Khmer Đỏ bắt giữ. Đảo Cô Tan có tên tiếng Anh là Koh Tang. Các thương thuyết ngoại giao về con tin không thành và chính phủ Hoa Kỳ đã phải cho lực lượng biệt kích đổ bộ lên đảo để giải cứu các thương nhân tù binh Mỹ. Cuộc giao tranh đã xẩy ra rồi các thương nhân được cứu thoát nhưng phía Mỹ đã để lại xác các trực thăng và vài mạng lính biệt kích. Thương thuyền đó có tên Mayaguez. Nhìn xác chiếc trực thăng, trí tưởng tôi nghĩ về hình ảnh trận chiến chớp nhoáng trong ngày hôm đó. Tiếng súng nổ... thây người ngã vật... tiếng phành phạch của cánh quạt máy bay trực thăng. Đảo Cô Tan nổi tiếng với thế giới tương tự vụ đột kích giải cứu tù binh phi công của biệt kích Mỹ trong một nhà tù ở Sơn Tây gần Hà Nội năm xưa.

Chuyển xong số đạn pháo, Sok Sammath cho đám chúng tôi hai thùng nước ngọt CoCa Cola, một thùng bánh bisquit và một cây thuốc lá Apshara kèm theo lời nhắn:

- Hai ngày nữa tàu hải quân sẽ chở các anh về cảng Kompong Som.

Họ sẽ chở chúng tôi về cảng Kompong Som bằng chiếc tàu hải quân chở hàng tiếp liệu và vũ khí cho đảo Cô Tan. Khi về đến cảng Kompong Som thì số phần chúng tôi sẽ ra sao? Ai cũng lo lắng, thắc mắc. Anh Tấn bảo: " Kệ cha nó, nghĩ nhiều thêm mệt. Cái gì đến nó sẽ đến. Mình có tính cũng chẳng được ". Ngày kế tiếp, nhiều lính Khmer trên đảo bớt thì giờ của họ để đến thăm cả bọn chúng tôi. Họ mang cà phê, thuốc lá, bánh kẹo và mời chúng tôi cùng ăn cùng hút với họ cho vui. Ông lớn chỉ huy đã lấy máy ảnh ra chụp hình cả nhóm chúng tôi chung với lính trên đảo để giữ làm kỷ niệm. Có lẽ, chuyện chúng tôi ghé vào hòn đảo Cô Tan này là một việc hãn hữu. Dầu gì đi nữa chúng tôi cũng là người ngoại quốc ở trên đất nước họ. Anh Tấn có hỏi về số phận hai người tài công thì Sok Sammath cho biết theo tua tuần tra biển, vài ngày sắp tới sẽ có tàu ghé lại đảo để tìm họ.

- Thật tầm bậy tầm bạ hết sức, mấy người đó bộ khùng điên rồi nên mới ở lỳ lại đảo không ra về theo các anh. Hết thực phẩm thì sẽ chết đói. Chúng tôi cố gắng tìm mang họ về đây. Nhưng về đây rồi, sẽ phải chờ khá lâu nữa mới có tàu từ Kompong Som đi ra. Sok Sammath chắt lưỡi.



                                                     (cồn nữa)


Read more
Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014
no image




                                     (tiếp theo)

Vài người đã đi ra rồi sau đó thêm nhiều người nữa ra tiếp. Trong số họ có cả nhóm của thằng Minh, hai cậu cháu Hoàng-Sang và các thanh niên khác. Những người đi ra làm thành một đám lố nhố đứng chung quanh bốn người Khmer rồi người Khmer biết tiếng Việt bảo những người trên ghe đi vô rừng kêu hết tất cả người đang trốn phải đi ra hết. Tiếng thằng Minh gọi lớn:

- Anh Vũ, anh Tấn ơi ra đi. Các anh khác nữa ra đi. Đừng bỏ trốn nữa. Mấy người lính Kampuchia đến giúp mình chứ không làm hại mình đâu. Đừng sợ họ. Ra ngay đi.

Tôi và Dũng đưa mắt nhìn anh Tấn, hỏi: " Tính sao bây giờ đây hả anh Tấn? Mình cũng đi ra chứ anh? ".

Anh Tấn im lặng, nhìn hai chúng tôi mà không trả lời. Vừa lúc đó, hai người tài công từ chỗ nào đó chạy đến nhập bọn chung với ba người chúng tôi. Một trong hai người nói: 

- Đừng có đi ra. Coi chừng bọn lính này là tụi Khmer Đỏ đó. 

Anh Tấn lắc đầu, trả lời họ: 

- Cờ nửa đỏ nửa xanh dương với 5 ngọn tháp vàng là của phe Khmer Hiêng Xom Rin chứ không phải bọn PolPot-Iêng Sa Ri đâu. Họ là đàn em của tụi Việt Cộng đó. Thôi mình ra cho rồi xem sao đi các em. 


Anh Tấn nói đúng, bọn đầu lãnh CS Hà Nội khi dựng đám Khmer tay sai đã vẽ cho họ một lá cờ y chang cờ của đám Việt Cộng tức Mặt Trận Giải Phóng trước đây trong thời chiến tranh Việt Nam. Tôi và Dũng đứng lên cùng một ý nghĩ chung với anh Tấn nhưng hai người tài công lại quyết định khác. Họ nói là phải trốn không ra để chờ, hy vọng vài ngày nữa thì các tàu hải tặc Thái Lan sẽ đem đám đàn bà-con gái về trả lại. Họ sẽ gặp mặt lại vợ họ rồi họ hỏi tôi và Dũng có trốn trong rừng chung với họ không? Tôi và Dũng cùng lắc đầu.

- Mấy ông không thương vợ mấy ông sao? Một người tài công hỏi hai đứa tôi.

Trời đất! Thì ra hai người tài công đã nghĩ Ánh Phương, Mỹ An là hai người vợ của tôi và của Dũng. Thảo nào họ mới chạy đến chỗ tôi và Dũng đang trốn để mong có thêm bạn đồng hành chung với họ.Tôi cho họ biết là hai cô gái đó với chúng tôi mới quen nhau khi xe phải ghé Mũi Nai vì trễ chuyến hẹn. Sự thân mật của tôi và Ánh Phương cũng như giữa Dũng và Mỹ An nên khiến hai người tài công đã nghĩ chúng tôi là các cặp vợ chồng cùng đi chung chuyến vượt biên như họ.

- Tôi cũng nghĩ như mấy chú tài công, dè đâu cô cậu chỉ mới quen nhau thôi ... Không phải là vợ chồng. Anh Tấn ngập ngừng nói.

- Vậy các anh định sẽ đi ra thật sao? Người tài công đó nhìn tôi và Dũng mà hỏi tiếp.

- Phải đi ra thôi anh. Mình đốt lửa mấy hôm nay là để mong có người lại giải thoát mà. Theo tôi nghĩ thì các anh cũng nên ra đi, đừng tìm cách ở lại đảo không tốt và cũng đừng nghĩ là bọn hải tặc đó sẽ quay trở lại đây để trả người. Tôi ân cần trả lời.

Nhưng hai người tài công vẫn nhất định trốn ở lại. Họ quả quyết chỉ vài ngày nữa thôi thì tàu hải tặc Thái Lan sẽ quay trở lại đảo hoang và rồi họ sẽ gặp lại các người vợ của họ.

- Các chú chắc mọi việc sẽ xẩy ra như vậy? Anh Tấn chợt xen vào, hỏi.

Hai người tài công nhìn nhau rồi nhìn ba người chúng tôi và khẽ gật đầu. Anh Tấn tiếp: 

- Nếu suy nghĩ của các chú là đúng đi rồi với 18 người đàn bà-con gái đó cộng thêm hai chú nữa thì lấy gì để ăn, lấy ghe đâu ra mà đi vượt biên tiếp? Tôi nghĩ mình nên ra cho xong. Trốn ở lại đây rồi cũng chẳng đi đến đâu.

Hai người tài công dụ dự không trả lời nhưng khi ba chúng tôi chuẩn bị bước ra thì vội dặn chúng tôi đừng nói gì về họ cho đám người Khmer biết rồi cả hai chạy phắt ngay vào trong rừng luôn. Tôi hiểu tình cảnh của hai người tài công. Thật tội nghiệp! Họ quá thương vợ họ đến nỗi vẫn tin là bọn hải tặc Thái Lan sẽ quay lại đảo để trả đám đàn bà-con gái nhưng suy nghĩ của họ thật viển vông. Tôi chưa từng nghe chuyện hải tặc Thái Lan bắt được đàn bà-con gái Việt rồi sau đó lại đem trả người về cho ghe. Nói là nói vậy thôi chứ nếu Ánh Phương mà là vợ tôi thật thì có thể tôi cũng sẽ hành động giống như họ. Họ đã rối trí rồi. Cầu mong một phép mầu nào đó đến với hai người tài công chung tình.

Ba chúng tôi là những người đi ra sau cùng. Người Khmer biết tiếng Việt thấy chúng tôi thì hất hàm, hỏi: " Đàn bà con gái Duôn đâu? Gọi họ ra đây luôn, trốn làm chi nữa ". Chúng tôi nói là không có phụ nữ nào cả thì y chỉ tay vào số quần áo nằm phơi trên dây hỏi vậy quần áo này ở đâu ra? Chúng tôi liền kể vắn tắt cho người Khmer biết sự việc đã xẩy ra trong ngày hôm đó. Y lắng nghe chăm chú rồi hỏi ai là leader của ghe thì nhiều người đưa mắt về phía anh Tấn nhưng anh Tấn thanh minh anh không phải là leader mà cũng chỉ là một khách đi bình thường như các người khác. Hỏi đến các tài công thì không thấy nên người Khmer đó nói chúng tôi phải gọi họ đi ra. Chúng tôi lại đi vào rừng tìm, cố sức gọi lớn mà cũng chẳng thấy họ đâu cả. Sau cùng, những người Khmer bảo chúng tôi dắt họ đến chỗ chiếc ghe bị hỏng. Họ trèo qua các ghềnh đá để vào xem xét chiếc máy của ghe rồi quyết định là chúng tôi phải tháo cái máy đó và mang ra chỗ bờ biển cho họ. Người Khmer biết tiếng Việt lấy tay chỉ định tôi, anh Tấn, Dũng, thằng Minh và 4 thanh niên khác cho việc tháo máy. Tháo máy ra thì không khó nhưng tám người chúng tôi đã chật vật vô cùng mới mang được cái máy ghe đến một bờ cát trống trải sát bờ nước biển theo lệnh của người Khmer đó. Tay chân chúng tôi ai cũng bị các mảnh sắc của loải sò bám cứng ở bề mặt các tảng đá cứa đứt nhiều chỗ, chảy máu khá nhiều. Khi có cái máy ghe nằm ở bờ cát rồi, những người Khmer dùng một sợi dây cáp nối từ ròng rọc trên tàu họ, cái máy của ghe chúng tôi đã được kéo thẳng lên tàu luôn. Xong xuôi, mấy người Khmer mang vào bờ cho chúng tôi ít gạo, hai hộp thịt heo kho, ít cá khô và một bắp cải tươi, bảo chúng tôi nấu cơm để ăn chung với họ. Chúng tôi vội nhóm bếp lại và gần một giờ đồng hồ sau đã có một bữa cơm ngon lành cho cả bọn. Ăn uống no nê, các người Khmer này đã gom hết tất cả quần áo của đám đàn bà-con gái trên dây phơi vào trong các túi xách của họ rồi ra lệnh cho chúng tôi chuẩn bị rời đảo hoang để theo họ về tàu.

Không thấy hai người tài công đi ra, các người Khmer để lại nồi nấu cơm cùng một bao độ 10 kg gạo và ít cá khô trên bờ đá cạnh chỗ nấu ăn rồi bảo chúng tôi viết ít chữ là 15 ngày nữa khi đi tuần tra thì tàu của họ sẽ ghé lại đây. Thôi vậy cũng được, mong rằng đến khi đó thì hai người tài công sẽ theo về với chiếc tàu tuần duyên Khmer. Tất cả chúng tôi bước lội từng bước theo chân những người Khmer để ra con tàu nhỏ. Từ con tàu nhỏ, chúng tôi được các người Khmer chuyển sang qua chiếc tàu lớn. " Tàu tụi tui sẽ chạy về đảo Cô Tan ", người Khmer biết tiếng Việt nói với chúng tôi. Dõi mắt nhìn đảo hoang một lần cuối, tôi vẫn thấy hai đống lửa trên bờ cháy nghi ngút với cột khói nhỏ. Chắc chắn là đâu đó dưới các tàng cây, bờ đá ... các tài công cũng đang nhìn hai chiếc tàu càng lúc càng xa dần họ. Cái nồi, bao gạo 10kg, gói cá khô vẫn còn nằm nguyên ở chỗ cũ. Chẳng thấy người tài công nào ra lấy chúng hết. Tôi cố nhìn mãi nhưng sau cùng, hình ảnh này xa dần, nhỏ dần và mất hẳn.

Tàu sẽ chạy về đảo Cô Tan. Hai tiếng Cô Tan tôi thấy rất quen. Hình như tôi đã nghe một câu chuyện nào đó về cái tên đảo Cô Tan ở trong vùng vịnh Thái Lan nhưng mà là chuyện gì thì chịu, không nhớ ra được. Cố gắng lục lọi trí nhớ của mình mà cứ mài mại hoài vẫn không ra. Thôi! Đành nghĩ chuyện khác vậy. Quan sát chung quanh chiếc tàu đang chở chúng tôi. Chiếc nhỏ chạy song song mé phía sau nhưng tốc độ của nó cũng chẳng kém gì chiếc lớn. Đây là các loại tàu tuần duyên hải quân. Tuy nhỏ hơn chiếc tàu đánh cá Thái Lan và thân tàu bằng thép nhưng sức chạy của chúng rất nhanh để lại đằng sau hai vệt nước dài trắng xoá. Đúng là tàu hải quân. Tôi thầm đếm có cả thẩy là tám người Khmer trên con tàu lớn. Tàu nhỏ bên kia thì chỉ năm người. Vậy là đúng cấp số của một tiểu đội lính. Quần áo những người Khmer mặc là loại kaki màu phân ngựa. Chân họ đi loại giầy bata như loại giày của bộ đội Việt Cộng. Gần mũi tàu là một cây đại liên 12 ly 7 nòng chỉa thẳng về phía trước. Các khẩu súng AK 47, B 41 và RPD cùng các dây đeo băng đạn để nằm đây đó trên tàu. Đám 31 người chúng tôi ngồi sát bên nhau trên mặt sàn tàu và cả trong buồng lái nữa. Tôi nói nhỏ với anh Tấn: 

- Anh coi súng ống của họ kìa. Để sơ hở vậy không sợ bọn mình có thể chộp lấy các cây súng này mà uy hiếp cướp tàu họ luôn sao? 

- Lính Khmer là đầy tớ của đám Việt Cộng bên nước mình. Bọn Việt Cộng là chủ của tụi nó nên khi nó thấy mình người Việt chắc cũng nghĩ như vậy. Chủ thì có bao giờ tìm cách lật đổ thằng đầy tớ đâu, phải không? Anh Tấn cười cười, nói thêm: " Mình ghét bọn Việt Cộng thật nhưng phải nhìn nhận là chúng đã làm cho bọn Khmer sợ nên mình mới được đám hải quân Khmer đối xử như vầy chứ Vũ biết dân Khmer có đời nào ưa người Việt nước mình. Mối thù truyền kiếp mà . Do quan hệ ngoại giao cả thôi ... Y như mình không ưa bọn Tàu vậy đó ". Ngừng một lát anh Tấn nói tiếp: " Sự thực là bọn Việt Cộng đâu có tử tế gì với người vượt biên mình. Chúng đã từng rượt theo ghe vượt biên rồi dùng cây 12 ly 7 bắn thẳng vào ghe nữa đó Vũ. Còn mình mà cướp tàu họ rồi làm sao mà lái đây. Tài công đâu? Có cái máy ghe hư còn bó tay thì có cho không cái tàu sắt này cũng đành đầu hàng thôi. Đám lính Khmer nầy họ cũng biết điều đó chứ bộ ".

Tàu chạy qua rất nhiều hòn đảo. Chúng tôi thấy khá nhiều tàu đánh cá Thái Lan y chang loại tàu đã trấn lột và bắt nữ giới trên ghe chúng tôi rồi tàu lướt qua những chiếc ghe nhỏ bé của ngư dân Khmer nữa. Trời chiều bảng lảng thì tàu chạy vào một vùng có nhiều hòn đảo liền lạc với nhau rồi nó từ từ chạy chung quanh một đảo lớn nhất. Đám lính Khmer trên tàu bắt đầu đeo các dây đạn vào người và cầm vũ khí của họ trở lại. Chúng tôi sắp sửa đặt chân lên đảo Cô Tan rồi đây. Tàu giảm tốc độ dần dần và cập vào một cầu tàu bằng bê tông xây cạnh ngay sát bờ đảo. Theo chân những người Khmer, toàn bộ 31 người chúng tôi đi trên con đường trải đầy đá sỏi dẫn vào bên trong đảo. Tiếng ai đó trong nhóm chúng tôi nói vui: " Chúng ta đang đi trên đường sạn đạo đó nha ". Vài người Khmer từ phía trong chạy ra đón những người lính trên tàu vừa đến. Tiếng họ nói líu lo với nhau mà cặp mắt trắng dã đôi lúc nhìn về phía người chúng tôi. Rồi một người còn khá trẻ trong đám lính khoát tay ra dấu cho chúng tôi phải đi theo. Gã Khmer đó dẫn chúng tôi băng qua vài dẫy nhà gạch lợp tôn rồi quẹo trái, đi thêm qua vài dẫy nhà nữa thì y dừng lại trước một căn nhà khá lớn. Gã lấy chìa khóa mở cửa, bật công tắc điện chiếu sáng trong phòng rồi quay ra nói và với chúng tôi bằng tiếng Việt thật sõi:

- Tôi là Sok Sammath. Các anh ở tại đây đêm nay. Không ai được tự ý đi lang thang qua các nhà khác và chỉ được phép đi nhà đái nhà ỉa ngay phía đàng sau khi cần thôi. Điện sẽ tắt vào lúc 10 giờ tối. Tôi sẽ mang đèn dầu ngay cho các anh. Các anh tự sắp xếp lấy chỗ riêng cho từng người đi. Nghe rõ chưa?

Nhiều cái đầu trong chúng tôi cùng gật, có người thì nói dạ. Gã Khmer quay ra ngoài căn nhà liền. Chúng tôi tản ra nhanh chóng để kiếm chỗ nằm riêng. Đây là một căn nhà thật lớn, rộng và không hề có giường, tủ mà thay vào đó là các hàng bàn ghế như loại bàn ghế học sinh trong trường học. Mỗi người chúng tôi liền chiếm lấy một cái bàn. Tôi, Dũng và anh Tấn lựa ba cái bàn nằm kề sát nhau ở gần cuối hàng. Chúng tôi phải lấy quần áo bẩn của riêng mình để phủi bụi bám ở trên mặt bàn. Căn nhà này đã bị bỏ phế không dùng từ lâu. Một cái bục gỗ loại dành cho người đứng diễn thuyết được đặt ngay ở bên trái một góc phòng. Tôi thấy một tấm bảng lớn mà ai đó đã tháo để nằm dưới mặt đất sát vách tường. Đến gần, thấy mặt sau bảng có viết dòng chữ gì đó, tôi vẫy anh Tấn lại cùng xem. Chúng tôi lật tấm bảng, một hàng chữ Nhà Truyền Thống mầu vàng chói trên đỏ chói. 



                                          (còn nữa)
Read more
Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014
no image




                                 (tiếp theo)

Anh Tấn kín đáo ra dấu cho tôi dìu thằng Minh đi về hướng khác. Lần lượt từng người tản ra. Tôi, Dũng và thằng Minh đi trở về chỗ nằm cũ. Gió buổi ban mai từ hướng biển thổi vào bờ mát lạnh. Chỉ vài tiếng sau tôi đã biết sơ về hòn đảo. Nó nhỏ hơn hòn đảo ngày hôm qua khi ghe chúng tôi ghé vào và cũng có các nguồn nước ngọt từ trong các hốc đá chẩy ra. Cây cối trên đảo thưa thớt nhưng đều là loại cây khá lớn. Các chùm lan Ngọc Điểm hoa tím mọc tầm gửi đó đây trên các cành hoặc trên thân cây cao. Bình thường mà trông thấy hoa phong lan thì chắc chắn tôi sẽ tìm cách để trèo lên gỡ nó xuống cho bằng được nhưng ở hoàn cảnh này thì cũng chẳng thiết gì đến chúng. Gần trưa, ai nấy đều cảm thấy đói bụng. Đi trở lại chỗ chiếc ghe bị sóng đánh tan hoang, vài người chúng tôi cố men theo các ghềnh đá ra được chỗ ghe bể để thu nhặt tất các túi xách phụ nữ, nồi niêu chén bát và ít gạo còn sót lại trong các thùng nhựa. Gạo mang lên bờ, anh Tấn đổ ra đong được cả thẩy là 33 chén vừa đúng với số 33 người chúng tôi có mặt trên đảo. Bây giờ lại ngay cơn nước ròng, trơ ra các bãi cát, bờ đá. Anh Tấn liền phân công chúng tôi người thì đi thu nhặt ốc biển và lật các hòn đá để bắt Cua bắt Còng hoặc Cá nhỏ mắc cạn, người thì thu gom củi khô và nhóm bếp để nấu cháo ăn ngay. Anh Tấn nói mọi người:

- Mỗi bữa chúng ta chỉ nấu một chén gạo thôi. Ba bữa cháo cho một ngày ăn cầm chừng xem sao đã. Chúng ta phải chấp nhận chịu đói một chút. Nhớ là gặp trái cây lạ trên đảo thì đừng có ăn ngay. 

Không có bàn tay phụ nữ trong việc nấu ăn, đám nam giới chúng tôi chật vật khá lâu mới gầy được nồi cháo cho cả bọn. Cũng giống như lúc ở hòn đảo ngày hôm qua, chúng tôi bắt được khá nhiều ốc, cua, cá trong các chỗ cạn. Tuy vậy nồi cháo vẫn loãng vì ít gạo. Ngồi gần bếp lửa, tôi hỏi anh Tấn về vệt máu ở trên mũi và vết bầm nơi gò má anh thì anh cho biết ngay lúc vừa lên tới sàn tàu, khi bọn hải tặc giở trò, anh đã đánh trả lại chúng ngay và chỉ bị khuất phục bởi họng súng lục của gã đầu đảng. Anh nói: " Vết bầm ở gò má là do thằng đầu đảng dùng báng súng đánh vào đó, tới giờ mà anh vẫn còn rêm ". Như vậy chỉ có anh Tấn là người duy nhất trong ghe bị bọn hải tặc đả thương. Cháo nấu chín, chúng tôi múc đều ra cho từng người ăn lần lượt và anh Tấn là người ăn sau cùng. Xong, tôi kiếm một chỗ khuất để xem lại túi xách của Ánh Phương. Hai bộ quần áo cùng các áo ngực, quần lót của nàng còn đây mà bây giờ tình cảnh nàng ra sao không biết nữa? Mở xem lại chiếc bóp nhỏ xinh xắn của nàng, tôi thấy có hai thỏi son môi, một bút chì kẻ mắt, một cái gương soi bé tí nằm lẫn lộn với chai dầu gió Song Thập cùng vài viên kẹo và một lọ nhựa nhỏ đựng ít viên thuốc cảm, thuốc chống ói bên trong. Một phong bì cũ với địa chỉ của anh trai nàng ở bên nước Úc. Tôi cầm xem tấm thẻ Chứng Minh Nhân Dân của nàng. Hoàng Thị Ánh Phương số nhà... phường 12, quận 10. Ánh Phương! Ánh Phương ơi! Tôi gọi nhỏ tên nàng. Ánh mắt của em khi nhìn tôi trong những giây phút cuối trên con tàu Thái Lan cũng như sự đau nhói trong tim tôi khi đó, chúng ta đã là một phần đời của nhau, ít nhất là trong lúc này. Sẽ không bao giờ tôi quên được hình ảnh của em. Bỏ quê hương, xa lìa người thân ruột thịt để trốn chạy bọn Cộng Sản vô luân mà đâu ngờ chúng ta lại sa vào tay bọn hải tặc Thái Lan hung ác. Tội nghiệp thân em quá! Tôi xem lại ảnh của Ánh Phương trên tấm thẻ rồi nhớ lại khuôn mặt nàng trong ngày hôm qua. Ánh Phương hiền lành khả ái mà không lẽ phần số em lại bất hạnh quá vậy sao! Tôi ngồi im, thẫn thờ nhìn ra hướng biển. Con tàu hải tặc Thái Lan khốn kiếp đó đã mang em đi nơi nào rồi? Tôi đã giữ tấm Chứng Minh Nhân Dân đó và nhờ nó cùng các vật dụng trong cái bóp nhỏ mà gần mười năm sau tôi mới tìm lại được Ánh Phương. Nhưng đó là chuyện về sau. 

Cũng theo phân công của anh Tấn, chúng tôi chia nhau thành hai nhóm năm người đi ngược về hai phía để thám sát hòn đảo. Mong rằng trên đảo hoang sẽ có loại cây nào cho trái chín để chúng tôi ăn thêm. Chúng tôi cũng trông thấy các vỏ kem đánh răng hiệu Như Ngọc, vỏ chai xì dầu hiệu Nam Dương ... vất rải rác ở vài chỗ trên đảo. Chúng tôi còn gặp một cái bếp làm bằng ba hòn đá chụm lại nằm trong một chỗ kẹt kín gió. Tro đen, các mẩu củi nấu dở vẫn còn sót nguyên. Trên một tảng đá bằng phẳng ở dưới một tàng cây bóng mát, nằm trơ trọi hai cái chén và một cái nồi nhỏ đầy nước cùng rêu xanh bám chung quanh. Một cái áo kiểu Thanh Niên Xung Phong được máng chặt vào kẽ cành cây ở gần ngay đó. Chiếc áo cũ mốc cứng ngắc. Nó được tay người nào đó máng ở đây từ rất lâu rồi. Những người Việt vượt biên nào đã dùng bữa cơm trên tảng đá ở đây? Chúng tôi đi dọc theo bờ hòn đảo như vậy cho đến khi cả hai nhóm gặp lại nhau. 

- Đảo nầy ở gần bờ thì không có cây trái gì ăn được hết. Không biết bên phía trong thì sao nữa? Một người trong nhóm kết luận. 

Quay trở về chỗ cũ, loay hoay không làm gì mà trời đã bắt đầu xế chiều. Bữa ăn chiều của chúng tôi cũng chỉ duy nhất là món cháo ốc hoặc ăn thêm vài con cua, cá bắt được thôi. Một người chép miệng than phải chi ghe giữ lại được một tay lưới thì bây giờ còn có cái để bắt cá mà ăn. Đương không lại đem cho ghe Phú Quốc hết tất cả. Ai cũng tiếc rẻ nhưng có ai biết trước chuyến đi để mà liệu được!

Hai ngày trôi qua rồi ngày thứ tư và hôm nay là ngày thứ năm chúng tôi đã sống trên đảo hoang. Mỗi khi chiều xuống thì từng con dơi lớn bay ra kiếm ăn từ tàng cây cao nào đó trên đảo. Đây là loại dơi quạ. Thân hình chúng thật to với sải cánh khá rộng. Khi chúng bay vút qua gần chúng tôi, ai cũng thấy rõ đầu chúng như đầu con chó nhỏ với cái miệng há lớn đỏ lòm cùng răng nanh trắng bóc. Có người thắc mắc những con dơi đó bay đi kiếm ăn ở đâu? Nghe tiếng kêu, tiếng vỗ cánh của chúng làm ai cũng sợ chúng đáp bám lên người rồi hút máu của mình. Đêm về trời lạnh, có người lôi còn cả quần áo sót lại của nữ giới ra đắp lên người thay cho chăn nữa. " Có úm chút hơi hám của các em thì thấy ấm hơn nghe mấy cha ", một người trong ghe nói đùa. Hai người tài công cho là sẽ gặp lại vợ họ vì sau khi bọn hải tặc chán chê với đám đàn bà-con gái trên ghe thì chúng sẽ đem họ trở về đây. Nhưng năm ngày trôi qua rồi mà vẫn không thấy bóng hai chiếc tàu Thái Lan đâu, giờ trông mặt họ buồn bã thấy rõ. Ai cũng quả quyết hải tặc bắt đám đàn bà-con gái ở ghe vượt biên thì không đời nào có vụ chúng quay trở lại để trả người. Thêm vào chuyện cháu bé trai con chị Ân nữa. Cứ chiều đến là cháu bắt đầu khóc đòi mẹ vì nhớ và vì đói bụng. Do vậy mà chúng tôi mới biết còn có một thanh niên em ruột của chị Ân đi cùng ghe nữa. Hoàng, tên người thanh niên này cho biết về cháu ruột mình: 

- Tên nó là Sang. Cha nó năm năm trước đây vượt biên mà không ai nghe được tin tức gì cả. Chắc ghe đã chìm hay bị hải tặc gì đó. Giờ thì đến phiên mẹ của nó. Tội nghiệp cho thằng nhỏ! Sang ơi Sang! Mầy đừng khóc nữa. Mầy càng khóc thì càng làm cậu thêm đau lòng, rối trí lắm mầy biết không?

Không còn ghe, chuyện vượt biên của chúng tôi coi như tắt lịm. Bây giờ chúng tôi chỉ cầu mong có ghe, tàu nào đó ghé vào đây để giải cứu chúng tôi. Nếu gặp được tàu ngoại quốc rồi họ sẽ đưa chúng tôi đến một trại tị nạn trong vùng thì càng tốt nhưng trong vùng vịnh Thái Lan này và nhất là chúng tôi đang ở trên một hòn đảo nhỏ xa khuất thì chuyện hy vọng có tàu ngoại quốc ghé vào là điều rất mong manh. Cầu có ghe, tàu nào đó biết có người lâm nạn kẹt trên đảo để đến cứu dù biết sự giải cứu này có thể sẽ dắt chúng tôi vào nhà giam. Thà là vậy mà còn đường sống hơn là chết đói dần mòn ở đây nên, sau khi tập họp tất cả 32 người lại bàn bạc anh Tấn đã quyết định phải đốt các đống lửa thật lớn. Chúng tôi lấy thêm dầu từ dưới lòng ghe bể rồi tản nhau ra đi thu gom các cành cây khô và làm thành hai đống củi khá lớn ở gần bờ biển rồi bắt đầu đốt lửa cho cháy liên tục. Cứ kiếm thêm được củi thì vất ngay vào hai đống lửa để giữ cho nó khỏi tắt. Anh Tấn cũng nói chúng tôi căng các sợi dây để treo quần áo của đám đàn bà-con gái bỏ lại để mong có ghe, tàu trông vào sẽ nghĩ là có phụ nữ trên đảo thì có nhiều cơ may được họ giải thoát hơn. " Mình phải làm vậy thôi ", anh Tấn kết luận. Sau, mới biết suy tính của anh Tấn rất chính xác.

Sáng sớm ngày thứ bẩy có ai đó báo cho anh Tấn biết có bóng tàu lảng vảng ở ngoài khơi xa. Chúng tôi vội vất thêm củi vào các đống lửa đốt chúng cháy to hơn. Bóng tàu hướng vào bờ và cả thẩy là hai chiếc một lớn một nhỏ. Chiếc nhỏ cỡ ghe chúng tôi nhưng là loại tàu đi biển. Hai chiếc này có màu xám đen và không có vẻ gì là ghe đánh cá. Rồi khi chúng đến gần, chúng tôi biết đây là tàu nhỏ của hải quân. Một cây súng đại liên 12 ly 7 gắn ở ngay đầu mũi chiếc lớn và một lá cờ nửa đỏ nửa xanh dương với hình 5 ngọn tháp vàng trên nóc buồng lái của chiếc nhỏ. Vậy, đảo hoang chúng tôi tá túc thuộc lãnh hải của nước Khmer rồi. Chúng tôi chạy vội núp sau các gốc cây lớn trong nỗi lo sợ khi nhìn thấy bốn người Khmer tay võ trang súng AK 47, B 41 và RPD đang từ chiếc tàu nhỏ bước lội từng bước vào bờ. 

Ngay khi vừa đặt chân lên được bờ đảo. Gã Khmer thủ cây súng RPD quỳ một chân xuống, tay y hướng nòng súng lên ngọn các hàng cây gần chỗ ẩn nấp của chúng tôi và khạc một tràng liên thanh. Tiếng súng nổ đinh tai cộng với tiếng cành cây rơi gẫy cùng tiếng kêu táo tác của những con chim trên đảo đã làm cho chúng tôi càng sợ thêm. Chuyện gì sẽ xẩy ra nữa đây? Chúng tôi đốt lửa để mong có ghe tàu biết tình cảnh người lâm nạn trên đảo mà đến cứu. Giờ có người đến thì chúng tôi lại sợ. Kỳ lạ chưa !

Chúng tôi mạnh ai nấy chạy tuốt vào rừng tìm các chỗ kín đáo dưới các gốc cây, hốc đá để trốn. Tôi, Dũng và anh Tấn ngồi núp chung một nơi không xa chỗ hàng ngày chúng tôi thường nấu cháo mà gần đó là hàng dây phơi quần áo mầu mè của đám đàn bà-con gái. Ngồi đây nhìn bốn người Khmer đó mà không biết họ lành dữ như thế nào? Sau loạt đạn súng trường RPD thị uy, bốn người Khmer đi thẳng lại chỗ đặt bếp của chúng tôi. Họ nhìn vào cái nồi cháo trống trơn sau đó đi đến hàng dây phơi quần áo và lật vài chiếc áo chiếc quần ra xem xong họ nhìn chung quanh, miệng thì thào nho nhỏ. Không thấy bóng một người nào trong số chúng tôi, bốn người Khmer chụm vào nhau bàn bạc trong chốc lát rồi một người hướng mặt vào trong rừng gọi lớn:

- Nghe đây, tất cả người Duôn (người Khmer gọi người Việt là Duôn) phải ra bên ngoài ngay. Hai tay đưa phải lên đầu, nghe rõ chưa. Người Khmer nói bằng tiếng Việt và y lập đi lập lại: " Chúng tôi đến đây là để giúp người Duôn. Đừng sợ hãi. Ra ngay đi. Hai tay đưa lên đầu. Nghe chưa? ".


                                   (còn tiếp)
Read more